TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HS-PT Ngày: 07-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.
Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn và ông Nguyễn Anh Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Toàn, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28/02/2025 và ngày 07/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 13/2025/TLPT-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
- Các Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Chí H, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X (chết) và bà Nguyễn Thị H2; Vợ Trần Thị Ngọc T (đang ly thân) và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/12/2012, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Giao cấu với trẻ em” theo Bản án số 213/2012/HSST, đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của bản án, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trú”. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí H: Luật sư Trần Văn Đ – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; Địa chỉ: Số A đường P, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt
2
2. Hồ Ngọc H1, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nơi tạm trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ là Phạm Thị Ái N và 03 con; Tiền án: Ngày 26/01/2022, bị Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 19/2022/HSST, chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 02/02/2024 cùng các quyết định khác của bản án, chưa được xoá án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/4/2006, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 19/2006/HSPT, chấp hành xong hình phạt tù vài năm 2007 cùng các quyết định khác của bản án, chưa được xoá án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt
- Ngoài ra trong vụ án còn có 06 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 22 phút, ngày 21/01/2024, Nguyễn Chí H nhắn tin từ tài khoản zalo tên "Chí Hiếu" đến tài khoản zalo tên "Trường Tấn" của Hồ Ngọc H1 để mua số lô, đề với nội dung đánh số 41 đầu với số tiền 3.000.000 đồng, bao lô số 41 với số tiền 100.000 đồng trên kết quả xổ số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh L (gọi tắt là đài Đ) và đánh số 41 đầu với số tiền 800.000 đồng trên kết quả xổ số của Công ty xổ số kiến thiết tỉnh T (gọi tắt là đài Tiền Giang), sau khi nhận được tin nhắn, Hồ Ngọc H1 đã đồng ý bán những số lô, đề trên cho Nguyễn Chí H với tổng số tiền thực thu là 5.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định được số tiền đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1 dưới hình thức mua bán số lô, đề được thua bằng tiền vào ngày 21/01/2024 như sau:
- Đài Đ: Nguyễn Chí H mua đầu số 41 và bao lô số 41. Tổng số tiền Nguyễn Chí H dùng đánh bạc ghi trên phơ là 6.300.000 (Sáu triệu ba trăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số, Nguyễn Chí H đã trúng đầu số 41 và bao lô 41 với tổng số tiền trúng là 186.000.000 đồng. Do đó, tổng số tiền Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1 dùng đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề trong lần này là: 192.300.000 (Một trăm chín mươi hai triệu ba trăm ngàn) đồng.
3
- Đài T: Nguyễn Chí H mua đầu số 41 với số tiền 800.000 đồng thì được khuyến mãi nửa đuôi là 400.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Chí H dùng đánh bạc ghi trên phơ là 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng. Sau khi có kết quả xổ số, Nguyễn Chí H không trúng số lô đề này. Do đó, tổng số tiền Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1 dùng đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề trong lần này là: 1.200.000 (Một triệu hai trăm nghìn) đồng.
Đây là hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, đề được thua bằng tiền vào ngày 21/01/2024 của Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1. Do đó tổng số tiền dùng đánh bạc của Nguyễn Chí H dưới hình thức số lô, đề trong ngày 21/01/2024 trên kết quả xổ số các đài Miền nam là: 192.300.000 đồng + 1.200.000 đồng = 193.500.000 (Một trăm chín mươi ba triệu năm trăm nghìn) đồng. Đây là hình thức đánh bạc một người chơi với nhiều người, trong đó Hồ Ngọc H1 là chủ lô đề, do đó buộc Hồ Ngọc H1 phải chịu trách nhiệm đối với tổng số tiền đánh bạc là 193.500.000 (Một trăm chín mươi ba triệu năm trăm nghìn) đồng.
Tiếp đến, sau khi lấy được tiền bị cáo Nguyễn Chí H gặp Trương Khánh T1. Trương Khánh T1 rủ Nguyễn Chí H, Ngô Ngọc T2, Nguyễn Xuân A đến khu B của Phan Nhất D thuộc thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận do Trương Khánh T1 trực tiếp quản lý để đánh bạc. Do thấy có ít tiền nên A gọi điện cho Nguyễn Nhất K bàn bạc hùn vốn để đánh bạc thì Nguyễn Nhất K đồng ý, cả hai thống nhất Nguyễn Nhất K góp 1.000.000 đồng, tỷ lệ ăn sẽ chia cho Khong 200.000 đồng và thua thì K cũng sẽ chịu 200.000 đồng. Khi Ngô Ngọc T2, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Chí H và Trương Khánh T1 đến khu B thì gặp Trần Văn P. Sau đó Trương Khánh T1 sắp xếp bàn ghế, chuẩn bị bài Tây, hộp gỗ đựng bài để phục vụ cho việc đánh bạc. Khoảng 30 phút sau, Ngô Ngọc T2, Nguyễn Xuân A, Nguyễn Chí H, Trần Văn P bắt đầu ngồi vào chơi đánh bạc dưới hình thức chơi bài kéo phé được thua bằng tiền. Trương Khánh T1 là người trực tiếp trộn bài bỏ vào hộp gỗ đặt giữa bàn để người chơi rút bài. Quá trình chơi, Trương Khánh T1 quy định người chơi nào thắng nhiều tiền thì bỏ 50.000 đồng tiền xâu vào hộp gỗ do T1 chuẩn bị. Khi cả nhóm chơi được 05 phút thì Đỗ Văn P1 đến và cùng tham gia chơi đánh bạc, một lúc sau Nguyễn Nhất K đến và đưa 1.000.000 đồng cho Nguyễn Xuân A để hùn tiền đánh bạc. Cả nhóm chơi đánh bạc với hình thức nêu trên đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị Công an tỉnh B và Công an huyện H bắt quả tang, riêng Trần Văn P bỏ chạy thoát. Đến 13 giờ ngày 23/01/2024, Trần Văn P đến Công an huyện H đầu thú.
Quá trình điều tra xác định được tổng số tiền mà các bị cáo mang theo sử dụng để đánh bạc là 17.675.000 đồng gồm: 3.600.000 đồng của Ngô Ngọc T2; 1.875.000 đồng của Nguyễn Xuân A; 1.000.000 đồng của Nguyễn Nhất K; 10.000.000 đồng của Nguyễn Chí H; 500.000 đồng của Đỗ Văn P1; 700.000 đồng
4
của Trần Văn P.
Các bị cáo Ngô Ngọc T2; Nguyễn Xuân A; Nguyễn Nhất K; Nguyễn Chí H; Đỗ Văn P1; Trần Văn P, đánh bạc dưới hình thức kéo phé được thua bằng tiền, đây là hình thức đánh bạc nhiều người chơi với nhau, nên buộc các bị cáo Ngô Ngọc T2; Nguyễn Xuân A; Nguyễn Nhất K; Nguyễn Chí H; Đỗ Văn P1; Trần Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 17.675.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam quyết định:
Tuyên bố :
Hồ Ngọc H1; Nguyễn Chí H; Đỗ Văn P1; Ngô Ngọc T2; Nguyễn Xuân A; Nguyễn Nhất K; Trần Văn P phạm tội: “Đánh bạc”. Trương Khánh T1 phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng:
điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt:
Nguyễn Chí H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024.
Áp dụng:
điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt:
Hồ Ngọc H1 18 (Mười tám) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt Đỗ Văn P1; Ngô Ngọc T2; Nguyễn Xuân A; Nguyễn Nhất K; Trần Văn P phạm tội: “Đánh bạc” và Trương Khánh T1 hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và xử phạt hình phạt chính là hình phạt tiền. Đồng thời tuyên xử lý vật chứng; tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo:
- Ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn Chí H và bị cáo Hồ Ngọc H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Hồ Ngọc H1 có đơn xin rút đơn kháng cáo.
- Bị cáo Nguyễn Chí H thay đổi yêu cầu kháng cáo từ kháng cáo xin giảm
5
nhẹ hình phạt thành kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Chí H thừa nhận việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo Nguyễn Chí H được hưởng án treo vì bị cáo bị phạt tù không quá 3 năm, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định, nên bị cáo có đủ điều kiện để cho hưởng án treo theo quy định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
1. Việc áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Hồ Ngọc H1, Nguyễn Chí H, Đỗ Văn P1, Trần Văn P và Trương Khánh T1:
Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa chặt chẽ, bởi lẽ: cả 05 bị cáo chỉ có giấy xác nhận của Công an (Đỗ Văn P1 xác nhận của PC04; Trần Văn P của CA huyện H; 03 bị cáo còn lại là của CA xã) là có thành tích trong cung cấp thông tin để phát hiện tội phạm ... Ngoài ra không còn căn cứ nào khác như Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Cũng cần phải biết là Công an xã chỉ tiếp nhận tin báo ban đầu, không có thẩm quyền khởi tố vụ án.
Theo nội dung hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thì “Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm” được hiểu là sau khi phạm tội, người phạm tội đã chủ động cung cấp những tin tức, tài liệu, chứng cứ có ý nghĩa cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội (như: chỉ đúng nơi cất giấu vật chứng quan trọng giúp cơ quan chức năng thu hồi được vật chứng đó; khai báo và chỉ đúng nơi đồng phạm khác đang bỏ trốn; khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội...). Ngoài ra, theo hướng dẫn tại mục 3 phần I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Toà án nhân dân tối cao thì tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” được hiểu là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới. Bị cáo không có lời khai hay cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có nội dung thể hiện sự tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới, cũng như phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội bị bắt quả tang; quá trình giải quyết vụ án, chỉ khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các đồng phạm khác tại các “Biên bản bắt người phạm tội quả tang” về hành vi “đánh bạc”.
6
2. Việc áp dụng khoản 1 Điều 54 đối với 02 bị cáo Hồ Ngọc H1 và Nguyễn Chí H
Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1 đánh bạc với hình thức chơi số đề với số tiền 193.500.000 đồng phạm tội ở khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự với khung hình phạt từ 03 đến 07 năm.
Bị cáo Hồ Ngọc H1 đã có tiền án, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục cố ý phạm tội. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Chí H đã hai lần thực hiện hành vi phạm tội, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về nhân thân: cả 02 bị cáo đều đã bị xét xử vào các năm 2006 và 2012 (nhân thân xấu). Như vậy, ở lần phạm tội này cấp sơ thẩm lại áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự tuyên mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không nghiêm, không đủ sức răn đe đối với 02 bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án đủ nghiêm khắc mới đảm bảo được tính răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung. Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự chưa vững chắc, từ đó nhận định bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 xử dưới khung hình phạt là không tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của 02 bị cáo.
3. Việc cho bị cáo bị cáo Trần Văn P hưởng án treo:
Đối với bị cáo Trần Văn P: bị cáo P đã bị xét xử 03 lần đều về tội đánh bạc (2009 bị tuyên 09 tháng tù cho treo; 2014 bị tuyên 02 lần đều án tù); năm 2021 tiếp tục bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Đến nay lại tiếp tục đánh bạc. Như vậy, bị cáo đã bị xử phạt tù về hành vi đánh bạc bị cáo vẫn không ăn năn, liên tục thực hiện hành vi đánh bạc thể hiện thái độ không chấp hành pháp luật. Việc cấp sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo là không đủ sức răn đe và không phù hợp với nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo, vi phạm Nghị quyết về án treo.
Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo
Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
2. Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
7
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị HĐXX áp dụng: Việc cấp sơ thẩm có nhưng sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp HĐXX phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm như đã nêu ở trên. Vì vậy, căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị hủy bản án sơ thẩm đề xét xử lại.
Do bản án sơ thẩm bị hủy nên kháng cáo của 02 bị cáo không xem xét tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1. Thẩm quyền:
Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1 được làm trong hạn luật định và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
1.2. Về việc rút đơn, thay đổi yêu cầu kháng cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Hồ Ngọc H1 có đơn xin rút đơn kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Chí H xin thay đổi yêu cầu kháng cáo từ kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt thành kháng cáo xin được hưởng án treo. Đối với việc rút đơn, thay đổi yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Ngọc H1 và Nguyễn Chí H là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí H:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Chí H khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng, không oan. Tuy nhiên, bị cáo kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo vì cho rằng bản thân chưa suy nghĩ đúng đắn do hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, là lao động chính của gia đình. Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hiện nay bị cáo nộp thêm tình tiết mới có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú là hiện bị cáo đang nuôi thêm một con nhỏ 4 tháng tuổi do người cùng chung sống với bị cáo đã bỏ đi để lại nên xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh khó khăn của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc gia đình nuôi dưỡng con cái.
Xét thấy: Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi hai con nhỏ và được chính quyền địa phương xác
8
nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xét thấy việc bị cáo đang nuôi con nhỏ là hoàn cảnh gia đình có khó khăn nên đã xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt mà bị cáo phạm phải là đã khoan hồng, chiếu cố. Nay bị cáo lại nộp thêm đơn có xác nhận của chính quyền địa phương là đang nuôi thêm một con 4 tháng tuổi nữa và tiếp tục yêu cầu tòa án xem xét đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để xin được hưởng án treo là không phù hợp vì tình tiết bị cáo có hoàn cảnh khó khăn đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tại bản án sơ thẩm. Đồng thời bị cáo có nhân thân xấu, mặc dù tới thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích nhưng lần phạm tội này bị cáo bị truy tố vào khung hình phạt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Trong vụ án này bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần thuộc 01 trong 6 trường hợp không được cho hưởng án treo theo hướng dẫn tại Điều 3 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao nên không thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo như kháng cáo của bị cáo và ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo mà cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe bị cáo, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[3] Đối với việc rút yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hồ Ngọc H1:
Sau khi Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam xét xử sơ thẩm đối với bị cáo, ngày 01/10/2024, bị cáo Hồ Ngọc H1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được Tòa án tỉnh Bình Thuận tiến hành thụ lý vụ án để xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, trước ngày mở phiên tòa bị cáo có đơn xin rút đơn kháng cáo. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo giữ nguyên ý kiến xin rút đơn kháng cáo. Xét việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo. Bản án sơ thẩm có hiệu lực đối với phần xét xử bị cáo.
[4] Đối với ý kiến của Kiểm sát viên cho rầng cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hồ Ngọc H1, Nguyễn Chí H, Đỗ Văn P1, Trần Văn P và Trương Khánh T1 là chưa chặt chẽ Hội đồng xét xử xét thấy:
Hiện nay mặc dù chưa có nghị quyết hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, căn cứ hướng dẫn tại khoản 8 Điều 2 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để tham khảo áp dụng tương tự pháp luật như sau: Hợp tác tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, là việc người phạm tội đã cung cấp những tin tức, tài liệu, bằng chứng có ý nghĩa thiết thực cho việc phát hiện và điều tra tội phạm. Ngoài việc cung cấp tin
9
tức, người phạm tội bằng hành động thiết thực của mình đã giúp cơ quan điều tra phát hiện và điều tra tội phạm, như chỉ nơi cất giấu tang vật, chỉ nơi những người phạm tội khác đang trốn tránh, cùng cơ quan điều tra đến nơi cất giấu tang vật để thu hồi vật chứng, khai báo về tội phạm và người phạm tội mới liên quan đến tội phạm mà họ bị buộc tội.
Ngoài những trường hợp nêu trên, có thể xác định những trường hợp khác là Hợp tác tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm nhưng tòa án phải nhận định rõ trong bản án.
Trong vụ án này tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Hồ Ngọc H1, Nguyễn Chí H, Đỗ Văn P1, Trần Văn P và Trương Khánh T1 là do các bị cáo đã có hành vi khai báo với cơ quan công an về một tội phạm mới chưa bị phát hiện. Mặc dù tội phạm này không có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nhưng các thông tin của các bị cáo cung cấp là có giá trị nên các bị cáo đã được các cơ quan chức năng có văn bản xác nhận sự việc các bị cáo là người đã cung cấp tin tức và từ những tin tức này các cơ quan có thẩm quyền đã xử lý hình sự và xử lý hành chính người vi phạm. Hiện nay các cơ quan có văn bản xác nhận đã cung cấp đầy đủ thông tin về kết quả xử lý đối với các tin báo do các bị cáo cung cấp bằng các quyết định khởi tố vụ án, quyết định khỏi tố bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang .... Vì vậy, việc cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo là phù hợp. Điều này cũng phù hợp với hướng dẫn tại mục 3 phần I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Toà án nhân dân tối cao.
Bị cáo Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, có người thân là người có công với cách mạng; Hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bản thân bị cáo Nguyễn Chí H nhiều lần tham gia công tác từ thiện. Nên mặc dù trong vụ án này các bị cáo đều có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng sau khi cân đối các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì các bị cáo vẫn đủ điều kiện để được xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức án dưới khung hình phạt mà bị cáo phạm phải là phù hợp.
Đối với ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát cho rằng Tòa án sơ thẩm xét xử cho hưởng án treo đối với bị cáo Trần Văn P là không đủ sức răn đe và không phù hợp với nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo, vi phạm Nghị quyết về án treo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Tại Điều 2 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo có quy định:
10
Điều 2. Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo
Người bị xử phạt tù có thể được xem xét cho hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
2. Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc.
a. Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo;
Từ hướng dẫn trên cho thấy: Bị cáo Trần Văn P mặc dù đã từng bị xử lý hành chính, cũng như xử lý hình sự về tội đánh bạc, nhưng đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã được xóa án tích, được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, không có tiền án, tiền sự. Đồng thời lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên việc cấp sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo tuy có phần nhẹ, nhưng không vi phạm nghị quyết hướng dẫn về án treo. Sau khi cấp sơ thẩm xử án bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, Viện kiểm sát cũng không có kháng nghị nên Hội đồng xét xử không thể làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, không có căn cứ để hủy án để trả về cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Các quyết định liên quan đến bị cáo Hồ Ngọc H1 trong Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
[6] Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 342; khoản 1 Điều 348; điểm a, đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
11
bị cáo Hồ Ngọc H1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chí H
Tuyên bố:
Nguyễn Chí H phạm tội: “Đánh bạc”
Áp dụng:
điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Nguyễn Chí H 18 (Mười tám) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là từ ngày 22/01/2024 đến ngày 31/01/2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Buộc bị cáo Nguyễn Chí H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Các quyết định liên quan đến bị cáo Hồ Ngọc H1 trong Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật tính kể từ ngày tuyên án (ngày 07/3/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
12
Bản án số 33/2025/HS-PT ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về đánh bạc
- Số bản án: 33/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chí H và Hồ Ngọc H phạm tội "Đánh bạc"
