Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-PT

Ngày: 05 – 6 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tân

Ông Bùi Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Trang Văn C và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2025/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo và có liên quan đến kháng nghị:

  1. Trang Văn C, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm vuông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trang Văn D và bà Lê Thị H; Có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

  2. Ngô Văn H1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1977 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: ấp P, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: làm vuông; con ông Ngô Văn P và bà Trần Thị N; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 02 tháng 12 năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”. (Có mặt)

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Đặng Minh V, sinh ngày 07 tháng 5 năm 1989 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Thống N1 và bà Tô Thị Đ; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

  2. Cao Minh Đ1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1981 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: ấp D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T và bà Nguyễn Tú T1; Có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt)

  3. Cao Hữu N2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Y và bà Trần Thị R; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Phạm Văn T2, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 09 tháng 01 năm 2022, bị cáo C tổ chức cho 12 người tham gia đánh bài binh “Ấn độ” 06 lá thắng thua bằng tiền tại nhà của mình, thì bị bắt quả tang và thu giữ: số tiền tại chiếu bạc là 5.200.000đ, 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng, 284 lá bài tây đã qua sử dụng và các vật chứng khác.

Trong đó, 06 đối tượng hết tiền đã nghỉ chơi trước gồm: Nguyễn Chí T3, Hồ Văn Đ2, Hồ Thế H2, Nguyễn Văn M, Trần Kim C1, Lê Thanh T4; 06 đối tượng tham gia chơi đến ván bài cuối cùng khi Công an đến bắt quả tang gồm: Ngô Văn H1, Đặng Minh V, Cao Minh Đ1, Cao Hữu N2, Nguyễn Thị Kiều D1, Phạm Văn T2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2025/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trang Văn C, Đặng Minh V, Cao Minh Đ1, Cao Hữu N2, Phạm Văn T2, Ngô Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trang Văn C 03 (ba) tháng tù.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đặng Minh V 04 (bốn) tháng tù.

    Xử phạt bị cáo Cao Minh Đ1 04 (bốn) tháng tù.

    Xử phạt bị cáo Cao Hữu N2 04 (bốn) tháng tù.

  4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T2 05 (năm) tháng tù.
  5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Văn H1 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, bản án sơ thẩm còn nhận định như sau:

Đối với bị can Nguyễn Thị Kiều D1 đã bị khởi tố về tội “Đánh bạc” trong quá trình điều tra bị can bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã đến nay chưa bắt được nên đã tách vụ án để giải quyết theo quy định.

Các đối tượng gồm: Nguyễn Chí T3, Hồ Văn Đ2, Hồ Thế H2, Nguyễn Văn M, Trần Kim C1, Lê Thanh T4. Do tham gia đánh bạc không liên tục tại các ván bài và các đối tượng này đã nghỉ chơi trước khi Công an đến bắt quả tang, bên cạnh đó quá trình điều tra không làm việc được với Nguyễn Thị Kiều D1 và Trần Kim C1 nên chưa xác định được tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc tại các ván bài mà các đối tượng đã tham gia nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định tách các hành vi trên để giải quyết cùng với hồ sơ Nguyễn Thị Kiều D1 khi bắt được Nguyễn Thị Kiều D1.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Các bị cáo Trang Văn C, Đặng Minh V, Cao Minh Đ1, Cao Hữu N2, Ngô Văn H1 kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Ngày 26 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu có Quyết định kháng nghị số 05/QĐ-VKS-P7 với các nội dung kháng nghị và đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung, với lý do như sau:

  • Bản án hình sự sơ thẩm có vi phạm trong việc áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự và quyết định hình phạt đối với bị cáo Ngô Văn H1.
  • Có căn cứ cho rằng bị cáo Trang Văn C đã phạm vào tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm, cụ thể là tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc tách vụ án hình sự, cụ thể là tách hành vi của Trần Kim C1, Hồ Văn Đ2, Nguyễn Chí T3, Hồ Thế H2, Nguyễn Văn M, Lê Thanh T4.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên kháng nghị số 05/QĐ-VKS-P7 ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 13/2025/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, để điều tra lại theo thủ tục chung.

- Bị cáo Trang Văn C rút toàn bộ kháng cáo.

- Các bị cáo còn lại giữ nguyên kháng cáo và không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các bị cáo thừa nhận: bị cáo C đã tổ chức đánh bạc cho các bị cáo tham gia đánh bạc ăn tiền, khi bị bắt đã thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.200.000đ và nhiều vật chứng có liên quan.

[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt bị cáo H1 mức án 06 tháng tù là mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng lại áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự là có vi phạm trong việc áp dụng pháp luật.

[3] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc có căn cứ cho rằng bị cáo Trang Văn C đã phạm vào tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm, cụ thể là tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự: Do Cơ quan điều tách hành vi của 06 đối tượng và không tiến hành điều tra về hành vi tổ chức đánh bạc của bị cáo C cho mười người đánh bạc cùng một lúc. Tuy nhiên qua tổng hợp lời khai các bị cáo và các đối tượng có liên quan, thể hiện:

Nguyễn Văn M khai: khi ông M đến nhà bị cáo C thì chỉ có khoảng 5 đến 6 người nằm võng, đến một lúc sau khi bị cáo C thì có một số người khác đến. Trong đó, ông M xác định về từng tụ bài, ông M xác định như sau:

  • Tụ bài 1 gồm có 03 người gồm: ông M, bị cáo N2 và bị cáo T2. Bị cáo T2 và ông T4 khai lúc đầu ông M là đánh chính, bị cáo N2 và bị cáo T2 ké; khi ông M hết tiền thì bị cáo N2 vào thay, còn bị cáo T2 ké. Như vậy, tại thời điểm ban đầu tụ bài này đã tồn tại 03 người đánh bạc chung 1 tụ.
  • Tụ bài 2 gồm có D1 và C1: tụ bài này D1 là người đánh chính, còn C1 là người ké, C1 khai C1 và D1 thay phiên nhau bắt bài đến khi bị bắt, lời khai của ông H3 cho rằng C1 còn ké với D1 ván bài trước khi bị bắt. Như vậy, tụ bài này luôn tồn tại 02 người đánh bạc chung 1 tụ.
  • Tụ bài 3 gồm có bị cáo V và bị cáo Đ1, ông H2 và ông Đ2: trong đó bị cáo V và bị cáo Đ1 thay phiên nhau làm cái; còn ông H2 và ông Đ2 ké (ông H2 và ông Đ2 thừa nhận). Như vậy tụ bài này đã tồn tại 04 người tham gia đánh bạc.
  • Tụ bài thứ 4 gồm có bị cáo H1 và ông T4: trong đó bị cáo H1 là người đánh chính và ông T4 ké (ông T4 thừa nhận). Như vậy tụ bài này đã tồn tại từ đầu là 02 người tham gia đánh bạc.

Bên cạnh đó, ông T3 cũng thừa nhận đã lại tham gia đánh bạc từ đầu cho đến khi bị bắt.

Từ lời khai nêu trên, đã đủ 10 người tham gia đánh bạc cùng một lúc và phù hợp với lời khai bị cáo C trong quá trình điều tra và xét xử sơ thẩm, còn tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C không thừa nhận và cho rằng bị cáo không có tổ chức cho đánh bạc.

[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu về việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc tách vụ án hình sự, cụ thể là tách hành vi của Trần Kim C1, Hồ Văn Đ2, Nguyễn Chí T3, Hồ Thế H2, Nguyễn Văn M, Lê Thanh T4.

Tại bút lục 202 đến 212 thể hiện rất nhiều lời khai của D1 và C1 nên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhận định quá trình điều tra không làm việc được với Nguyễn Thị Kiều D1 và Trần Kim C1 nên chưa xác định được tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là không phù hợp với hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền đánh bạc, mặc dù có một số đối tượng thua và nghỉ trước, có những người có ván ké, ván không nhưng tại thời điểm bắt đầu đã có mặt đủ các bị cáo và các đối tượng tách. Số tiền bắt quả tang tại chiếu bạc là trên 5.000.000đ nên số tiền đánh bạc tại thời điểm ban đầu cũng sẽ dùng vào việc đánh bạc, cho nên phải chịu trách nhiệm chung.

Chứng cứ trong hồ sơ và lời khai thể hiện rõ đã bỏ lọt đối với bà C1 và ông T4, cụ thể:

Đối với bà C1: tham gia chung tụ với D1, có lời khai thể hiện bà C1 còn ké ván trước khi bị bắt, điều này phù hợp với biên bản phạm tội quả tang khi bắt còn có mặt C1. Nên việc khởi tố D1, mà tách C1 ra là không phù hợp và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Đối với ông T4: ông T4 khai ông ké ván cuối cùng với bị cáo H1 thì bị bắt, lời khai này phù hợp với lời khai bị cáo H1 và lời khai bị cáo N2 tại phiên tòa, bị cáo N2 xác định ông T4 chơi từ đầu đến cuối, không có việc hết tiền như ông T4 trình bày, đồng thời bị cáo N2 cũng cho rằng nhiều người cùng đánh bài ăn tiền nhưng không khởi tố các đối tượng khác là không công bằng.

[5] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải để điều tra lại.

[6] Đối với kháng cáo của các bị cáo, cũng như lời chối tội của bị cáo C tại phiên tòa phúc thẩm sẽ được xem xét trong quá trình vụ án bị hủy và xét xử lại theo quy định.

[7] Bên cạnh đó, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc cá thể hóa hình phạt đối với bị cáo C. Bị cáo C chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc nhưng hành vi của bị cáo là hành vi tổ chức đánh bạc nên việc xử phạt bị cáo mức án thấp hơn các bị cáo tham gia đánh bạc là không tương xứng trong việc cá thể hóa hình phạt.

[8] Do hủy án sơ thẩm nên các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358, khoản 1 Điều 360 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
  2. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 13/2025/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.
  3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu để điều tra lại theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Gửi Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Gửi Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - Gửi VKS, TA xét xử sơ thẩm;
  • - Gửi VP CQĐT Công an tỉnh (PC01);
  • - Gửi nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có);
  • - Gửi người kháng cáo;
  • - Gửi người có liên quan đến kháng cáo hoặc kháng nghị (nếu có);
  • - Gửi Cơ quan THA dân sự có thẩm quyền (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HS-PT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự (đánh bạc, tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 33/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hủy án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger