|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 33/2025/HNGĐ - ST Ngày 30 – 6 - 2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO – TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phúc Hiếu
2. Ông Hà Thanh Phong
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Duy Long - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Lâm Thao mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 154/2024/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 09/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2025/QĐST- HNGĐ ngày 24/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Diễm H, sinh năm 1994 (Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt);
ĐKHKTT: Khu Đại Đình, xã Phùng Nguyên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở: Khu Núi Trang, TT. Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
ĐKHKTT: Khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Diễm H trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu H1 đăng ký kết hôn ngày 11/9/2018 tại UBND xã S (nay là xã P), huyện L, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn, hai bên tự nguyện tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng gia đình anh H1 tại khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do khó khăn kinh tế nên anh H1 vào thành phố Hồ Chí Minh để làm ăn, chị không đồng ý đi theo anh H1 nên vợ chồng mâu thuẫn và ly thân từ đó cho đến nay, chị đưa các con chung về sống ở nhà bố mẹ đẻ tại khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Anh H1 có thỉnh thoảng vẫn về thăm con nhưng vợ chồng không còn còn tình cảm và không liên quan gì đến nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.
- Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là: Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/02/2020. Từ khi vợ chồng ly thân, hai con chung sống cùng chị. Nếu ly hôn chị xin được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về công sức: Không có.
Đối với anh Nguyễn Hữu H1: Trong quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Nguyễn Hữu H1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh H1 biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng nhưng anh H1 đều không có mặt và không có lý do chính đáng. Do đó không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Diễm H có yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Hữu H1 và đề nghị Tòa án giải quyết về con chung khi ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu Đ, xã P, huyện L, tỉnh Phú Thọ nên căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.
Quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn không thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện. Bị đơn không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vụ án trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
2
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H và anh H1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Diễm H và anh Nguyễn Hữu H1 kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã S (nay là xã P), huyện L, tỉnh Phú Thọ phù hợp với Luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị H trình bày thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ khoảng đầu năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 vào thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, chị H không đồng ý đi theo anh nên vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân từ đó. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H1 có thỉnh thoảng có về nhà thăm con và cũng không có ý định hòa giải để vợ chồng giải quyết mâu thuẫn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh H1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh H1 đều vắng mặt. Mẹ đẻ của anh H1 là bà Nguyễn Thị C1 cung cấp: Hiện nay anh H1 đang đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về thăm con, anh chị có mâu thuẫn từ năm 2023. Anh H1 có biết việc chị H xin ly hôn nhưng anh không đồng ý. Do anh H1 không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên không thể tiến hành hòa giải được giữa các đương sự. Tiến hành xác minh tại khu dân cư và chính quyền địa phương thì được cung cấp: Khu dân cư được biết chị H và anh H1 có mâu thuẫn từ khoảng năm 2023 và hiện nay chị H đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho chị H được ly hôn với anh H1 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Diễm H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/02/2020. Hiện nay các con đang ở cùng chị. Quá trình giải quyết vụ án, chị H xin nuôi cả 02 con chung. HĐXX xét thấy: Từ khi vợ chồng ly thân, hai cháu vẫn sống cùng chị H và được chăm sóc tốt cả về thể chất và tinh thần. Anh H1 vắng mặt nên không có quan điểm về việc nuôi con chung. Xét thấy nguyện vọng xin nuôi con chung của chị H là chính đáng và phù hợp với pháp luật. Đồng thời, hiện nay anh H1 đang làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh và không có mặt tại phiên tòa nên nếu giao các con chung cho anh nuôi dưỡng thì sẽ không đảm bảo được quyền lợi của các con. Do đó, cần giao 02 con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án chị H có quan điểm nếu được giao nuôi con thì không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con
3
chung cùng chị. Xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự và phù hợp với pháp luật nên cần chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết. Nếu sau này anh H1 có đề nghị sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[2.4] Về công sức: Quá trình giải quyết chị H xác định vợ chồng không có nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết. Sau này nếu anh H1 có đề nghị sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên có quan điểm: Vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Diễm H:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Diễm H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu H1.
- - Về con chung: Đề nghị giao cho chị Nguyễn Diễm H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/02/2020. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H tự nguyện không yêu cầu.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị không xem xét giải quyết do Nguyên đơn không có yêu cầu.
- - Về công sức: Đề nghị không xem xét giải quyết do Nguyên đơn xác định không có.
- - Về án phí: Đề nghị HĐXX buộc chị H phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Diễm H phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
4
326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Cho cho chị Nguyễn Diễm H được ly hôn anh Nguyễn Hữu H1.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Diễm H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo C, sinh ngày 22/9/2018 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 12/02/2020. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị V do chị V không yêu cầu.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về công sức: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Diễm H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000002 ngày 14/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Hồng Ngân |
5
6
Bản án số 33/2025/HNGĐ - ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Diễm Hương - Nguyễn Hữu Học
