TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-5-2025 v/v ly hôn giữa chị Trần Thị Quý và anh Trần Ngọc Hưởng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Nghị
Ông Trần Xuân Chỉnh
- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham
gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Q, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Ngọc H, sinh năm 2002; Nơi cư trú: xóm A N, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 20 tháng 3 năm 2025, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Q trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Ngọc H tự nguyện kết hôn ngày 09 tháng 11 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Nam Định. Trước khi kết hôn, chị và anh H có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 1 năm. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống một thời gian đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là quan điểm sống vợ chồng không hợp, anh H không chịu làm ăn nên chị và anh H hay cãi chửi nhau, sau đó chị về nhà ngoại và vợ chồng chị ly thân nhau từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Trực giải quyết cho chị ly hôn anh Trần Ngọc H.
Về con chung: Vợ chồng không con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: chị Trần Thị Q xác định vợ chồng không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh H không đến Tòa án để làm bản tự khai, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng không tham gia phiên tòa nên anh H không có quan điểm để giải quyết vụ án.
3. Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ ngày 02-4-2025 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Nam Định, chính quyền địa phương cung cấp: Chị Q và anh H đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 09-11-2022. Quá trình chung sống, anh H và chị Q không có con chung và hiện chị Q và anh H đã ly thân do hôn nhân không có hạnh phúc. Anh H có đăng kí hộ khẩu thường trú tại xóm A N, xã T, vẫn thường xuyên sinh sống tại địa phương, ban ngày anh H đi làm, tối vẫn về nhà tại nơi cư trú trên. Nay chị Q có đơn xin ly hôn anh H thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên toà đều đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H; Về án phí: Chị Trần Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Q là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trần Ngọc H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N ngày 09 tháng 11 năm 2022 nên hôn nhân giữa chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, theo chị Q quan điểm sống của vợ chồng không hợp, anh H không chịu đi làm nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng ly thân nhau từ đầu tháng 10 năm 2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân, vợ chồng không quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa.
Nay chị Q xác định không còn tình cảm với anh H và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trần Thị Q xác định vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Trần Thị Q là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H.
- Về án phí: Chị Trần Thị Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị Q đã nộp tại biên lai số 0005308 ngày 31-03-2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực. Chị Trần Thị Q đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Q và anh Trần Ngọc H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Trần Thị Q, anh Trần Ngọc H có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Phương Thảo |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
