TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN Bản án sô: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày 28/11/2025 V/v Tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền Lương, bà Đinh Thị Hân
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký, Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà; Nguyễn Thị Phương Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 44/2025/TLST- HNGĐ, ngày 02/10/2025, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXX-ST, ngày 28/10/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị; Trần Thị H, sinh ngày: 08/10/1993. Số CC: 040193031664. Địa chỉ: Thôn G, xã Đ (xã T, huyện T cũ), tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Anh; Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/07/1993; Số CMND: [...]. Địa chỉ: Thôn M, xã K (xã V, huyện T cũ), tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn xin ly hôn, Bản tự khai và ý kiến trình bày tại phiên toà của nguyên đơn là chị Trần Thị H trình bày như sau:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn T vào ngày 22/04/2022 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T cũ, tỉnh Nghệ An (nay là xã K, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng đi làm công nhân và sinh sống tại tỉnh Bình Dương; tình cảm vợ chồng sống hạnh phúc bình thường, đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng nghiện ngập, không chịu khó làm ăn, tính tình hai vợ chồng không còn hợp nhau; nên hai người đã về quê ở huyện T cũ sinh sống, anh Nguyễn Văn T thì về xã V cũ sống với bố mẹ là bà Hoàng Thị T1 và bố là Nguyễn Văn T2 tại thôn M, xã V cũ, còn chị H về nhà mẹ đẻ ở thôn G, xã T cũ, nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An sống và cắt đứt mọi quan hệ từ đó cho đến nay.
Nay chị Trần Thị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, nên xin được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung với nhau, chị H cũng không có thai với anh Nguyễn Văn T.
- Về tài sản chung và nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngoài các ý kiến đã trình bày ra chị Trần Thị H không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày như sau:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, song bị đơn là anh Nguyễn Văn T đều vắng mặt và không có ý kiến gì, cho nên không thể thực hiện được việc công khai chứng cứ và hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về mặt thủ tục tố tụng. Còn về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung; không xem xét; về tài sản chung và nợ không xem xét; các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa chị Trần Thị H với anh Nguyễn Văn T, là tranh chấp về hôn và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân khu vực 5 – Nghệ An, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Cuộc hôn nhân giữa chị Trần Thị H với anh Nguyễn Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T cũ, tỉnh Nghệ An (nay là xã K, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng đi làm công nhân và sinh sống tại tỉnh Bình Dương; tình cảm vợ chồng sống hạnh phúc bình thường, đến tháng 02/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không đồng nhất quan điểm sống; mâu thuẫn trầm trọng vào tháng 02 năm 2024; nên hai người đã về quê ở huyện T cũ sinh sống, anh Nguyễn Văn T thì về xã V cũ sống với bố mẹ là bà Hoàng Thị T1 và bố là Nguyễn Văn T2 tại thôn M, xã V cũ, còn chị H về nhà mẹ đẻ ở thôn G, xã T cũ, nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An sống và cắt đứt mọi quan hệ từ đó cho đến nay.
- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng không có con chung, nên không xem xét.
- Về chia tài sản chung và nợ: Các đương sự không có yêu cầu, nên Toà án không xem xét.
- Xét ý kiến của Kiểm sát viên: Các ý kiến của Kiểm sát viên là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập nguyên đơn và bị đơn để công khai chứng cứ và hòa giải; nguyên đơn có mặt, còn bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn và bị đơn cũng đã được triệu tập hợp lệ; nguyên đơn có mặt, còn bị đơn vắng mặt không có ý kiến gì cả; đây là phiên toà được mở lần thứ hai, cho nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử bình thường theo quy định tại Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hòa giải, chị Trần Thị H thì nhất quyết ly hôn, anh Nguyễn Văn T thì vắng mặt và không có ý kiến gì. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc xin ly hôn của chị Trần Thị H, là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; 39; 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51;56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về trách nhiệm nuôi con: Vợ chồng không có con chung, nên không xem xét.
- Về chia tài sản chung: Toà án không xem xét.
- Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn. Nhưng chị Trần Thị H được trừ đi 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) có tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000716, ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự Nghệ An.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị đơn, có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Sơn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Hân | Nguyễn Thị Hiền Lương | Nguyễn Trọng Sơn |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký ) Nguyễn Trọng Sơn |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị H và anh Th
