Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/3/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Trang

Hội thẩm nhân dân: 1. Bùi Quang Hợi

2. Ông Nguyễn Văn Hiệp

Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết, Kiểm sát viên.

Trong ngày 27/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 103/2024/TLST - HNGĐ ngày 05/12/2024 về ly hôn; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Tấn T, sinh năm 1970. Có mặt.

Trú tại: Số nhà A đường L, tổ A, khu D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Bị đơn: Bà Ngô Thị D, sinh năm 1971. Xin vắng mặt.

Trú tại: Số nhà A đường L, tổ A, khu D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Võ Tấn T trình bày: Ông và bà Ngô Thị D kết hôn ngày 02/6/1992, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại phường V (nay là phường T), thành phố B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông phát hiện bà D có mối quan hệ ngoại tình với người đàn ông tên Đoàn Trọng D1. Từ những năm 2022 - 2023, ông thấy bà D thường xuyên lạnh nhạt với chồng con, có những biểu hiện bất thường đáng nghi vấn, sau khi tìm hiểu, điều tra, ông phát hiện bà D có ngoại tình, nhắn tin, nói chuyện và có những hành động sai trái với đạo đức. Sau đó, ông có họp gia đình và nhận thấy con trai là Võ Tấn T1 đến tuổi lập gia đình nên ông quyết định ly thân với bà D nhưng vẫn ở chung nhà để không ảnh hưởng đến tâm lý của các con. Sau khi vợ chồng ly thân một thời gian, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không ai còn quan tâm đến ai. Nay, ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã ly thân một thời gian dài, ông đề nghị Tòa án cho ông được ly hôn với bà D.

Vợ chồng có 02 con chung là: Võ Hương L, sinh năm 1993 và Võ Tấn T1, sinh năm 1996. Các con chung đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn là bà Ngô Thị D trình bày: Bà xác nhận lời khai của ông T về về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn và con chung là đúng. Vợ chồng bà chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì ông T có thái độ ghen tuông vô cớ, thường xuyên kiểm soát vợ con, do tính chất công việc của bà làm bảo vệ ở Công ty nên thời gian cho gia đình thường ít hơn, công việc phải làm theo ca và không thể tự ý nghỉ, do vậy ông Thứ sinh ra ghen tuông, nghi ngờ bà có mối quan hệ ngoài luồng là không đúng sự thật. Bà xác định vợ chồng vẫn chung sống cùng nhà không có chuyện xảy ra cãi vã xung đột, bà đã giải thích nhiều lần với ông T để ông hiểu công việc và thông cảm cho bà nhưng đến nay vợ chồng vẫn chưa tìm được tiếng nói chung. Nay ông T có đơn yêu cầu ly hôn, bà không đồng ý do vợ chồng bà không có mâu thuẫn gì, vẫn chung sống bình thường và cùng nhau nuôi dạy con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa nguyên đơn là ông Võ Tấn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với bà Ngô Thị D.

Bị đơn là bà Ngô Thị D đã được triệu tập hợp lệ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Võ Tấn T.

Về con chung, tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu giải quyết

Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra, công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Võ Văn T2 yêu cầu được ly hôn bà Ngô Thị D, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn bà Ngô Thị D có địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

Ông Võ Tấn T và bà Ngô Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 02/6/1992, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu sau đó cùng nhau đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của ông Võ Tấn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, ông T xác định nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng là do bà D có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác bên ngoài dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc; Tuy nhiên ông T không thấy trực tiếp, chỉ nghi ngờ ghen tuông khi phát hiện các tin nhắn của bà D với người khác. Xét thấy, tin nhắn do ông T cung cấp qua bản ảnh chụp màn hình điện thoại của bà D không thể hiện bà D có quan hệ ngoại tình.

Bà D thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T nghi ngờ và ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng có cãi nhau nhưng bà D đã nhiều lần giải thích tuy nhiên ông T vẫn không tin tưởng, cho rằng bà có ngoại tình.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương và gia đình ông T xác định: vợ chồng ông T, bà D vẫn còn tình cảm, vẫn chung sống tại địa chỉ số nhà A đường L, tổ A, khu D, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống, ông T và bà D không có xô xát, xihcs mích gì lơn, việc ông T yêu cầu ly hôn là do bực tức nhất thời chưa giải quyết được.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông T và bà D chỉ là sự nghi ngờ của cá nhân của ông T về việc bà D có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, ngoài ra ông T cũng xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì khác. Hiện nay, vợ chồng vẫn chung sống cùng nhà, không có xô xát, cãi cọ gì. Tình cảm của vợ chồng của ông T, bà D chưa đến mức trầm trọng, là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, ông bà vẫn có thể tiếp tục duy trì đời sống chung; Vì vậy, không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Võ Tấn T để vợ chồng ông bà có thời gian đoàn tụ, hàn gắn khắc phục những nghi ngờ của ông T và xây dựng gia đình hạnh phúc.

[2.3] Về con chung: Các con chung là chị Võ Hương L, sinh năm 1993 và anh Võ Tấn T1, sinh năm 1996 đã trưởng thành. Đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, công nợ: Không có, không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Do yêu cầu không được chấp nhận nên ông T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu của ông Võ Tấn T xin ly hôn bà Ngô Thị D.
  2. Về con chung: Không xem xét giải quyết
  3. Về tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Ông Võ Tấn T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ông T đã đóng 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm theo biên lai thu số 0000054 ngày 02/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Đương sự có mặt có quyền kháng trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lu HS, VP;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vũ Thu Trang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Quang Hợi

Nguyễn Văn Hiệp

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger