|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 33/2025/HNGĐ - ST Ngày: 23/6/2025 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bá Đình Tâm
- Bà Phạm Thị Bích Lệ
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lâm Đa Cha - Kiểm sát viên.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Thành - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, Bình Thuận
Bị đơn: Anh Tạ D, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện B, Bình Thuận
Có mặt nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện quá trình điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị B1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Tạ D xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình chấp thuận và có tổ chức cưới hỏi cho vợ chồng. Vợ chồng có đến UBND xã P đăng ký kết năm 2012.
Cuộc sống chung vợ chồng từ khi xác lập quan hệ thì hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân anh D không lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con nói ra thì anh D đánh đập chị. Sự việc đã diễn ra nhiều lần nhưng vì các con chị cố gắng chịu đựng nhưng anh D đánh đập quá chị không chịu được.
Hai bên gia đình biết chuyện nhưng cũng không hòa giải cho vợ chồng.
Mục đích hôn nhân không đạt, vợ chồng vợ chồng không có tiếng nói chung nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Tạ D .
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Tạ Như Y- sinh ngày 09/3/2012, Tạ Quốc H- sinh ngày 27/6/2013 hiện các con đang ở với chị, chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Tạ D: Anh Tạ D không đến Tòa án theo giấy triệu tập, Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục theo quy định của Bộ luật tổng tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình phát biểu ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử: đã thực hiện nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo quy định tại Điều 12 Bộ luật TTDS.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại các buổi Tòa án triệu tập, hòa giải, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa, vi phạm quy định tại Điều 70 BLTTDS năm 2015.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị B1 được ly hôn với anh Tạ D
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B1 nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là Tạ Như Y- sinh ngày 09/3/2012, Tạ Quốc H- sinh ngày 27/6/2013 đến khi trưởng thành, chị Bến không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn của anh Tạ D
Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị B1 và anh Tạ D có hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận nên yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết, thông báo các văn bản tố tụng cho anh D đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, do anh D vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
-
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B1, HĐXX nhận thấy: Chị B và anh D xác lập quan hệ vợ chồng năm 2007 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phan Thanh năm 2012, huyện Bắc Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 04/4/2012 nên là hôn nhân hợp pháp, chị B có đơn ly hôn nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
Xét thấy, chị B và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp do đó phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Theo Luật HNGĐ vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau. Thế nhưng anh D đã không có sự yêu thương chăm sóc chị B mà còn có hành vi bạo lực đối với chị B, không cùng chị B chăm sóc con cái, xây dựng gia đình hạnh phúc mà tự chấm dứt cuộc sống chung của vợ và chồng. Anh D đã vi phạm nghĩa vụ của người chồng làm cho mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía anh D, mặc dù Tòa án đã tống niêm yết đầy đủ văn bản tố tụng cho anh D biết về việc chị B yêu cầu ly hôn với anh nhưng anh D không có ý kiến gì và luôn vắng mặt tại các buổi hòa giải chứng tỏ anh D bỏ mặc không còn tha thiết hàn gắn tình cảm gia đình với chị B nữa. Do đó chị B yêu cầu được ly hôn với anh D là có cơ sở chấp nhận.
-
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Tạ Như Y- sinh ngày 09/3/2012, Tạ Quốc H- sinh ngày 27/6/2013 hiện các con đang ở với chị B và nguyện vọng là được ở với mẹ. Do đó để đảm bảo sự ổn định về sinh hoạt, học tập, tạo điều kiện tốt nhất cho con được phát triển toàn diện nghĩ nên giao các con cho chị B chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Anh Tạ D có được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con chung mà không bị ai cản trở.
Về mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng: Chị B không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[4] Về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B1 được ly hôn với anh Tạ D
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị B1 tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Tạ Như Y- sinh ngày 09/3/2012, Tạ Quốc H - sinh ngày 27/6/2013 đến khi trưởng thành, chị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị B1 phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, chị B đã nộp tại biên lai thu số 0009237, ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình, chị Nguyễn Thị B1 đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thanh Nữ Kiều Oanh |
Bản án số 33/2025/HNGĐ - ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bến-Dũng
