TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23/5/2025
“V/v Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long
Ông Đỗ Xuân Hoài
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà sơ thẩm số : 13/2025/QÐST-HNGĐ ngày 02/4/2025 và số: 28 /2025/ QÐST-HNGĐ ngày 05/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Bích D, sinh năm 1986; nơi thường trú: tổ C, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Cheng Tien S, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn S, huyện K, Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Bích D trình bày:
Chị Nguyễn Bích D và anh Cheng Tien S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Q vào ngày 06/01/2005. Sau khi kết hôn, anh Cheng T Sheng trở về Đài Loan và không có lần nào trở lại Việt Nam. Chị D và anh Cheng T Sheng sống mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Chị D nhận thấy không còn tình cảm với anh Cheng Tien S, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị D được ly hôn với anh Cheng Tien C để ổn định cuộc sống.
- Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có, chị D không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Cheng Tien S: là người mang quốc tịch Trung Quốc (Đài Loan) và theo yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Bích D, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Bích D; yêu cầu anh C Tien Sheng có mặt theo thời gian, địa điểm mà Toà án đã thông báo để giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị D đối với anh Cheng Tien S. Đề nghị anh Cheng Tien S phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Bích D.
Ngày 17/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận được Công văn số: 452/BTP-PLQT ngày 07/3/2024, của Bộ Tư pháp thông báo về kết quả uỷ thác tư pháp, thể hiện nội dung “địa chỉ của người được tống đạt không đầy đủ”.
Ngày 18/3/2025, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành lấy lời khai đối với nguyên đơn chị Nguyễn Bích D về việc: yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn anh Cheng Tien S: chị D trình bày, chị D chỉ biết duy nhất địa chỉ của anh C Tien Sheng là tại thôn S, huyện K, Đài Loan (Trung Quốc), ngoài ra chị D không biết địa chỉ nào khác của anh Cheng Tien S.
Ngày 18/3/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh ban hành Công văn số: 07/2025/TA-TGĐ “V/v đăng tin thông báo Văn bản tố tụng dân sự” gửi Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ, với nội dung yêu cầu đăng tin thông báo về: Thời gian, địa điểm mở phiên tòa sơ thẩm lần 1 và mở lại phiên tòa sơ thẩm lần 2, xét xử vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “Ly hôn” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Bích D và bị đơn anh Cheng Tien S. Đồng thời đăng tin trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Ngày 03/4/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiếp tục có Công văn số: 14/2025/TA-TGĐ “V/v đăng tin thông báo Văn bản tố tụng dân sự (lần 2)” gửi Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ, với nội dung yêu cầu đăng tin thông báo về: Thời gian, địa điểm mở phiên tòa sơ thẩm lần 1 và mở lại phiên tòa sơ thẩm lần 2, xét xử vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc: “Ly hôn” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Bích D và bị đơn anh Cheng Tien S. Đồng thời đăng tin trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Bích D đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Bích D như nêu trên. Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Bích D đối với anh Cheng Tien S; về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, chị Nguyễn Bích D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Bích D và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn”; bị đơn anh Cheng Tien S, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn S, huyện K, Đài Loan (Trung Quốc). Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Cheng Tien S đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Bích D thông qua Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp đã gửi Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan thực hiện ủy thác tư pháp.
Cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp bằng phương thức tống đạt cho bị đơn anh Cheng Tien S nhưng không tống đạt được với lý do “địa chỉ không đầy đủ”. Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đến nay, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa nhận được lời khai; tài liệu, chứng cứ của bị đơn anh Cheng Tien S. Tại phiên tòa lần thứ nhất, lần thứ hai và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh C Tien Sheng đều vắng mặt, không có đơn xin vắng mặt; nguyên đơn chị Nguyễn Bích D vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Bích D và anh Cheng Tien S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh Q ngày 06/01/2005, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, anh Cheng Tien S quay trở về Đài Loan sinh sống và không có lần nào trở lại Việt Nam. Vợ chồng sống mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Chị D không còn tình cảm với anh Cheng Tien S, yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với anh Cheng Tien S để ổn định cuộc sống.
Đối với bị đơn anh Cheng Tien S, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp để tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo thời gian mở phiên tòa; các tài liệu, giấy tờ liên quan đến yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Bích D; yêu cầu Cheng Tien S có mặt theo thời gian, địa điểm mà Toà án đã thông báo để giải quyết vụ án; đề nghị anh Cheng Tien S phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Bích D nhưng không tống đạt được với lý do “địa chỉ không chính xác".
Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trên Cổng thông tin điện tử của Văn phòng Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đ và Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đến nay Tòa án vẫn chưa nhận được lời khai; tài liệu, chứng cứ của Cheng Tien S. Tại các phiên tòa, bị đơn anh Cheng Tien S đều vắng mặt, không có đơn xin vắng mặt.
Căn cứ quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị Nguyễn Bích D và anh Cheng T Sheng không còn tồn tại đời sống chung của vợ chồng, không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần,... theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Bích D đối với anh Cheng Tien S.
[2.2] Về con chung: không có, chị Nguyễn Bích D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Nguyễn Bích D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Bích D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài: căn cứ quy định tại Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 44 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Bích D phải chịu lệ phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.
[5] Về chi phí tố tụng: Tòa án đã chi trả cho việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài hết tổng số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 153 và khoản 2 Điều 154 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chị Nguyễn Bích D phải chịu toàn bộ chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (đã nộp đủ).
[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; Điều 149; khoản 3 Điều 153; khoản 2 Điều 154; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 3 Điều 474 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 và Điều 44 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Bích D.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Bích D được ly hôn với anh Cheng Tien S.
- Về con chung: không có.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
- Về án phí, lệ phí: chị Nguyễn Bích D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005853 ngày 01/7/2024 và Biên lai thu tiền phí, lệ phí số: 0083316 ngày 01/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
- Về chi phí tố tụng: chị Nguyễn Bích D phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài (đã nộp đủ).
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Nguyễn Bích D biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Cheng Tien S biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
