|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 –ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HNGĐ- ST Ngày: 18/11/2025 V/v: “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 –ĐỒNG NAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Chức
Các hội thẩm: Bà Nguyễn Thị Mùa và ông Vũ Tiến Thả
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – chức vụ: Kiểm sát viên.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Kim Đức
Ngày 18 tháng 11 năm 2025. Tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2025/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXX ST -HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Điểu Thị N, sinh năm: 1985
- Bị đơn: Ông Điểu Gia R, sinh năm: 1982
- Cùng địa chỉ: Thôn B, xã P, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn yêu cầu xin ly hôn đề ngày 14/8/2025 nguyên đơn bà Điểu Thị N trình bày: Bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002 không có đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức đám cưới tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã Đ, tỉnh Đồng Nai).
Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau thường xuyên bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, mệt mỏi, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012. Hiện bà N không còn tình cảm với ông R nữa.
- Về con chung: Bà N trình bày: Vợ chồng bà N và ông R đã có với nhau 02 (hai) con chung tên: Điểu H, sinh ngày: 27/02/2004 và Điểu Thị H1, sinh ngày 16/6/2007.
- Tài sản chung; nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà Điểu Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai xét xử Tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng về con chung các con chung đều trưởng thành trên 18 tuổi tự lao động được không cần phải nuôi dưỡng. Vì vậy bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Điểu Gia R thừa nhận toàn bộ lời trình bày của bà Điểu Thị N là hoàn toàn đúng. Hiện ông R không còn tình cảm với bà N nữa, ông đề nghị Tòa án xét xử Tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cá bên đương sự đều thống nhất yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
Các đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp bất kỳ chứng cứ nào khác.
Tại phiên tòa:Bà Điểu Thị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
- Về con chung: Các on chung đã trưởng thành trên 18 tuổi tự lao động nuôi sống được bản thân nên không cần phải nuôi dưỡng đồng thời bà N không yêu cầu Tòa án xem xét. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
- Tài sản chung; Nợ chung: Không có; Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Điểu Gia R đồng ý theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn” của bà Điểu Thị N.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng trình tự pháp luật quy định. Việc xác định tư cách những người tham gia tố tụng của Thẩm phán phù hợp với quy định của Luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Điểu Thị N về việc “Ly hôn” đối với bị đơn ông Điểu Gia R. Tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Xét đơn khởi kiện của bà Điểu Thị N thuộc trường hợp“ Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Điểu Gia R có địa chỉ tại: Ấp B, xã P, tỉnh Đồng Nai
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33, điểm a, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13- Đồng Nai.
[2]. Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2002, tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (nay là xã Đ, tỉnh Đồng Nai) có tổ chức đám cưới và nhưng không có đăng ký kết hôn. Xét đây là hôn nhân không hợp pháp.
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Điểu Thị N và bị đơn ông Điểu Gia R đều có yêu cầu yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đồng Nai tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
Hội đồng xét xử xét thấy việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R mà không có đăng ký kết hôn là đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình qui định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo qui định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc đăng ký kết hôn không đăng ký theo qui định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Căn cứ thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT- TANDTC-VKSNDTC -BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao,Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư Pháp, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội “ về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình”. Hội đồng xét xử cần tuyên bố bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
-Về con chung: Bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R thống nhất là vợ chồng có 02 (hai) con chung tên: Điểu H, sinh ngày: 27/02/2004 và Điểu Thị H1, sinh ngày 16/6/2007. Các con chung đã trưởng thành trên 18 tuổi, bà N không yêu cầu không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xét.
-Về tài sản chung, nợ chung: Bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R trình bày là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Điểu Thị N phải chịu theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào khoản 1 Điều 9; Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm b, khoản 3 Nghị quyết số: 35/QH của Quốc hội và Thông tư liên tịch số: 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC –BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân Tối cao „Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Bộ Tư Pháp, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội “ về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình”. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn”của nguyên đơn bà Điểu Thị N đối với bị đơn ông Điểu Gia R.
- Tuyên bố: Bà Điểu Thị N và ông Điểu Gia R không phải là vợ chồng.
- Về án phí: Bà Điểu Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí HNGĐ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 – Đồng Nai ngày 17/10/2025, theo biên lai số 0004128.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; -VKSND khu vực 13- Đồng Nai; - Thi hành án tỉnh Đồng Nai; - Phòng THADS khu vực 13 –Đồng Nai; -UBND xã Đăk Ơ; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ vụ án; |
TM.HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lâm Thị Chức |
Bản án số 33/2025/HNGĐ- ST ngày 18/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 –ĐỒNG NAI về ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 –ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
