TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 17/6/2025
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Phương
Các hội thẩm nhân dân.
- Bà Hoàng Thị Phụng
- Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐ-ST ngày 05/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thùy L, sinh năm 1993
ĐKHK: thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: số nhà D, ngõ B đường T, tổ A, phường B, TP T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Tạ Văn A, sinh năm 1989
Quê quán: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Tiểu đoàn BB1, Trung đoàn BB568, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T.
(chị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh A vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Vũ Thị Thùy L trình bày:
Chị và anh Tạ Văn A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 19/01/2024. Sau khi kết hôn chị và anh A thuê nhà sống tại phường H, thành phố T, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị và anh A có quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp. Anh A chơi bời, nợ nần, không có trách nhiệm trong việc tích lũy tài chính để lo cho gia đình. Chị đã nhiều lần nói chuyện và cho anh A cơ hội nhưng anh A vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 01/2025 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh A.
Về con chung: Chị và anh A không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh A không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai ngày 15 tháng 4 năm 2025, bị đơn - anh Tạ Văn A trình bày:
Anh và chị Vũ Thị Thùy L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 19/01/2024. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế giữa hai vợ chồng không rõ ràng. Nay chị L xin ly hôn anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với vợ. Anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị L được đoàn tụ.
Về con chung: Anh và chị L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh và chị L không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại Công văn số 08/CV ngày 15 tháng 5 năm 2025, Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình cung cấp:
Chị Vũ Thị Thùy L và anh Tạ Văn A tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 19/01/2024. Sau khi kết hôn vì điều kiện công việc nên anh A, chị L không chung sống cùng gia đình anh A tại xã N; thỉnh thoảng anh chị có về thăm gia đình vào dịp nghỉ lễ hoặc có công việc gia đình. Trong quá trình chung sống giữa anh A, chị L có xảy ra mâu thuẫn gì hay không địa phương không nắm được. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của anh A, chị L theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Thùy L được ly hôn anh Tạ Văn A.
- + Về con chung, tài sản chung: không đặt ra giải quyết.
- + Về án phí: Chị Vũ Thị Thùy L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Chị Vũ Thị Thùy L khởi kiện xin ly hôn với anh Tạ Văn A, địa chỉ tại T, Trung đoàn BB568, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh T. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
Nguyên đơn là chị Vũ Thị Thùy L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Tạ Văn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh A vẫn vắng mặt và không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt gửi đến Tòa án. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Vũ Thị Thùy L và A Tạ Văn A được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong việc quản lý kinh tế, anh A thiếu trách nhiệm trong việc tích lũy tài chính để lo cho gia đình. Mâu thuẫn căng thẳng, chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ tháng 01/2025 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai anh A trình bày vẫn còn tình cảm với vợ và không đồng ý ly hôn tuy nhiên tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa anh A đều vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện anh A không có thiện chí hòa giải, không thực sự mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh A và chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho chị L được ly hôn anh A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Quan hệ con chung:
Chị Vũ Thị Thùy L và anh Tạ Văn A không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về tài sản:
Chị Vũ Thị Thùy L và anh Tạ Văn A không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí:
Chị Vũ Thị Thùy L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[2.5] Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị Thùy L và anh Tạ Văn A có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Thùy L được ly hôn anh Tạ Văn A.
- Về quan hệ con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000117 ngày 31 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
- Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Thùy L, anh Tạ Văn A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Phương |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thùy L - Tạ Văn A
