|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày 17-6-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 422/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 501/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị V; nơi cư trú: Số B L, phường Đ (nay là phường H), quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Duy T; nơi cư trú: Số B L, phường Đ (nay là phường H), quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị V trình bày:
Bà và ông Nguyễn Duy T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ (nay là phường H), quận L, thành phố Hải Phòng ngày 09/6/1987. Quá trình chung sống ông bà hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, lối sống, cách sống nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện nay ông bà đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Nay xác định tình cảm không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, không còn khả năng đoàn tụ vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông T.
- Về con chung: Ông bà có hai con chung là Nguyễn Duy C, sinh ngày 25/10/1987 và Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày 23/6/1994 đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Duy T vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có bản tự khai thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông T cũng như tống đạt các văn bản của Tòa án: Thông báo thụ lý vụ án, giấy mời, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông T nhưng tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ông T đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị V được ly hôn ông Nguyễn Duy T. Về con chung: Hai con Nguyễn Duy C, sinh ngày 25/10/1987 và Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày 23/6/1994 đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
[1] Bà V xin ly hôn ông T là vụ án ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn ông T cư trú trên địa bàn quận L nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà V vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân:
[3] Bà Phạm Thị V và ông Nguyễn Duy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ (nay là phường H), quận L, thành phố Hải Phòng ngày 09/6/1987. Vì vậy, hôn nhân giữa bà V và ông T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông bà hòa thuận đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, lối sống, cách sống nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Toà án đã tiến hành hoà giải 02 lần nhưng ông T đều vắng mặt thể hiện không thiện chí kết hợp với Toà án để hoà giải việc đoàn tụ gia đình.
[4] Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính do bất đồng quan điểm sống, lối sống, cách sống nên vợ chồng thường xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Hiện nay ông bà đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai kinh tế riêng biệt. Xét mâu thuẫn giữa bà V và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V đối với ông T.
+ Về con chung:
[5] Bà Phạm Thị V và ông Nguyễn Duy T có hai con chung là Nguyễn Duy C, sinh ngày 25/10/1987 và Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày 23/6/1994 đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
+ Về tài sản chung:
[6] Bà Phạm Thị V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí:
[7] Nguyên đơn bà Phạm Thị V phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bà V sinh năm 1963 là người cao tuổi, theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
[8] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị V được ly hôn ông Nguyễn Duy T.
- Về con chung: Bà Phạm Thị V và ông Nguyễn Duy T có hai con chung là Nguyễn Duy C, sinh ngày 25/10/1987 và Nguyễn Thị Kim C1, sinh ngày 23/6/1994 đều đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
- Về án phí: Miễn cho nguyên đơn bà Phạm Thị V án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị V và ông Nguyễn Duy T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hương |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V-T
