Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-3-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Túy Phượng và ông Lê Văn Công.

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 765/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 6a/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/02/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Hoàng Thị Kim H, sinh năm 1982; nơi thường trú: Xóm A, thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; tạm trú: 97/18, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;

  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Đăng Q, sinh năm 1980; nơi đăng ký thường trú: 67/2, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; tạm trú: 97/18, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 24/9/2024 bà Hoàng Thị Kim H trình bày:

Bà Hoàng Thị Kim H và ông Huỳnh Đăng Q tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 02/2009 ngày 14/12/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, tình trạng kéo dài căng thẳng, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống gia đình không hòa thuận, không tìm được tiếng nói chung nên là cho hai vợ chồng thường xuyên phát sinh cãi vã, vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân và đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, không còn tình cảm và không còn khả năng hàn gắn để đoàn tụ được nên yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông Q có 01 người con chung tên Huỳnh Quang M, sinh ngày 14/4/2011 con hiện đang sống chung với ông Q. Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung và yêu cầu ông Huỳnh Đăng Q cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Quá trình tố tụng, bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà H đồng ý giao cho ông Q được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, bà H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ gồm: Giấy chứng nhận kết hôn bản chính; giấy khai sinh của con chung (bản sao), căn cước công dân (bản sao), Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú.

* Bị đơn ông Huỳnh Đăng Q đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Q không có mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt là tự từ bỏ quyền tranh tụng. Đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến và yêu cầu khắc phục gì thêm về tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà H và ông Q đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà H đồng ý giao cho ông Q được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, bà H không cấp dưỡng nuôi con chung. Theo trình bày của con chung là Huỳnh Quang M, sinh ngày 14/4/2011 tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai thì con mong muốn được sống cùng với ông Q nên giao con chung cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của con; Bà H được quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

    • - Về tố tụng: Bà Hoàng Thị Kim H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Ông Huỳnh Đăng Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    • - Về quan hệ tranh chấp: Bà Hoàng Thị Kim H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và con chung với ông Huỳnh Đăng Q, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    • - Về thẩm quyền giải quyết: Ông Huỳnh Đăng Q là bị đơn hiện đang cư trú tại phường B, thành phố T nên Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Kim H và ông Huỳnh Đăng Q tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B, tỉnh Lâm Đồng được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số 02/2009 ngày 14/12/2009, đây là hôn nhân hợp pháp.

  3. Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo trình bày của nguyên đơn, sau khi kết hôn, bà H và ông Q sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, tình trạng kéo dài căng thẳng, đã nhiều lần tự hàn gắn nhưng không có kết quả. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống không hòa thuận, cả hai không tìm được tiếng nói chung, không còn hạnh phúc. Bà H xác định hiện nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau, bà H không còn tình cảm với ông Q, hai người không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được ly hôn với ông Q. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Q để làm việc, hòa giải nhưng không có mặt chứng tỏ ông Q không có ý muốn đoàn tụ với bà H. Như vậy, trình bày của bà H về việc mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Q là trầm trọng, hai người đã ly thân, đời sống chung không thể kéo dài, không có khả năng đoàn tụ là có căn cứ.

  4. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà Hoàng Thị Kim H và ông Huỳnh Đăng Q nhằm tạo lên một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau nuôi dạy con và phát triển kinh tế gia đình không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm, bà Hoàng Thị Kim H yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Đăng Q là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

  5. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H và ông Q có có 01 người con chung tên Huỳnh Quang M, sinh ngày 14/4/2011, con hiện đang sống chung với ông Q. Sau khi ly hôn, bà H đồng ý giao con chung cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, bà H không cấp dưỡng nuôi con; tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, cháu Huỳnh Quang M có nguyện vọng được sống cùng với cha. Xét thấy, hiện nay cháu M đang sống cùng với ông Q, quá trình tố tụng ông Q không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con chứng tỏ ông Q có đủ khả năng và điều kiện nuôi con. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn giao con chung Huỳnh Quang M cho ông Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  6. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

  7. Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

  8. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các điều 68, 69, 70, 71, 72; 81, 82, 83 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Hoàng Thị Kim H đối với bị đơn - ông Huỳnh Đăng Q về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con.

    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Kim H được ly hôn ông Huỳnh Đăng Q.

    • - Về con chung: Giao cho ông Huỳnh Đăng Q trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Huỳnh Quang M, sinh ngày 14/4/2011.

    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không cấp dưỡng nuôi con chung.

    • Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

  2. Về án phí:

    Bà Hoàng Thị Kim H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005461 ngày 18/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;

  • - VKSND thành phố Thuận An;

  • - Chi cục THADS Tp Thuận An;

  • - Chánh án;

  • - Đương sự;

  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trọng Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con Huệ - Quang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger