Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST;

Ngày: 14/4/2025;

V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Minh.
  2. Bà Đàng Thị Hồng Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Thái Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mai Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 305/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim V, sinh năm 1991 (Có mặt);

- Bị đơn: Ông Trần Văn V1, sinh năm 1987 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Trần Văn V1 tự do tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 2018 sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận tại số C, ngày 08/4/2019 là hoàn toàn tự nguyện, hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại thôn A, xã A, huyện N; Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do ông V1 sống không có trách nhiệm với gia đình, ông V1 thường hay ăn chơi hưởng thụ bên ngoài để mặc một mình bà tự lo liệu cho cả gia đình; Bà đã nhiều lần góp ý khuyên giải chồng nhưng ông V1 không nghe nên vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, đến nay hai bên đã không còn nói chuyện hay hỏi han gì nhau nữa, do vợ chồng mâu thuẫn quá nhiều nên khoảng 02 năm nay ông V1 tự ý ra ngoài sống riêng, ông V1 sống ở đâu thì bà không biết vì không hỏi, bà chỉ thấy ông V1 đi khoảng 01 tuần về thăm con một hôm rồi lại đi.

Nay bà thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, hôn nhân không có tương lai nên bà yêu cầu được ly hôn ông Trần Văn V1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày: 11/11/2018. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông V1 phải cấp dưỡng nuôi con chung; Bà có nghề nghiệp buôn bán thu nhập bình quân ổn định khoảng 7.000.000đ/tháng đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu ông V1 phải cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Trần Văn V1 đã được Tòa án niêm yết công khai các thủ tục tố tụng của Tòa nhưng không đến nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
  • - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù Tòa án đã thông báo và niêm yết công khai các thủ tục tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Kim V khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn ông Trần Văn V1; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn V1 có địa chỉ cư trú tại thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Trần Văn V1 đã được Tòa án niêm yết công khai các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim V và ông Trần Văn V1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận tại số: 38, ngày 08/4/2019; Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà V1 trình bày thì vợ chồng không hạnh phúc mà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, lý do là ông V1 sống không có trách nhiệm với gia đình, ông V1 thường hay ăn chơi hưởng thụ bên ngoài để mặc một mình bà tự lo liệu cho cả gia đình; Bà đã nhiều lần góp ý khuyên giải chồng nhưng ông V1 không nghe nên vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn, đến nay hai bên đã không còn nói chuyện hay hỏi han gì nhau nữa, ông Trần Văn V1 không đến Tòa làm việc coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình và cho thấy ông V1 không có thiện chí hàn gắn vợ chồng đồng thời chứng tỏ lời trình bày của bà V1 là đúng sự thật. Như vậy cuộc sống hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim V và ông Trần Văn V1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; Thực tế này phù hợp với nội dung “Đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân” về tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Kim V được chính quyền địa phương xác nhận vì vậy việc bà Nguyễn Thị Kim V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Văn V1 là có căn cứ, phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kim V và ông Trần Văn V1 có 01 con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 11/11/2018; Bà V1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn.

Xét thấy: Ông V1 không đến Tòa làm việc nên không có ý kiến trong việc giải quyết người nuôi con, trong khi đó bà V1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn, đồng thời tại biên bản lấy lời khai ngày 17/02/2025 con chung có nguyện vọng được ở với mẹ vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho bà Nguyễn Thị Kim V là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Gia B.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn V1 không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Kim V không yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bà Nguyễn Thị Kim V phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Khoản 1 Điều 273; Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim V được ly hôn ông Trần Văn V1.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Kim V có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Gia B, sinh ngày 11/11/2018.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Trần Văn V1 không cấp dưỡng nuôi con chung do Nguyễn Thị Kim V không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0004634, ngày 16 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Kim V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 14/4/2025); Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - UBND xã An Hải (2019);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đăng Cốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim Vinh - Trần Văn Vinh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger