|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/4/2025 Về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Cầm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đức và bà Hồ Thị Thúy Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Quang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Vũ Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngọc H, sinh năm 2000 trú tại: Số nhà A, đường T, thị trấn S, huyện Q, thành phố H đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Hữu N, sinh năm 2000 trú tại: Thôn N - N, xã Q, huyện Q, thành phố H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 10/8/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N có tự nguyện yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhà bố mẹ của anh N tại thôn N - N, xã Q, huyện Q, thành phố H.
Quá trình hôn nhân chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vả, xúc phạm nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N ham chơi, không quan tâm đến gia đình và vợ con. Mặc dù gia đình khuyên can nhưng vợ chồng vẫn xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn tình cảm yêu thương gì với nhau. Từ tháng 3 năm 2022 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, cuộc sống của ai tự người đó lo liệu, không còn quan tâm chăm sóc gì nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Bùi Thị Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Hữu N.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Có một người con chung là Lê Hữu H1, sinh ngày 07/9/2018, hiện đang sống với chị Bùi Thị Ngọc H. Chị H yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lê Hữu N, tại Biên bản xác minh tại gia đình anh N và chính quyền địa phương cho biết: Anh Lê Hữu N hiện trú tại: Thôn N - N, xã Q, huyện Q, thành phố H
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N có tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).
Quá trình hôn nhân giữa chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N phát sinh mâu thuẫn nên hiện nay hai người sống ly thân, anh N sống với gia đình anh N còn chị H cùng người con chung về sinh sống với cha mẹ ruột của chị Bùi Thị Ngọc H.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án và có tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Lê Hữu N, gia đình đã nhận và giao trực tiếp cho anh N. Tuy nhiên, do bận công việc nên anh N không đến Tòa án để tham gia tố tụng theo yêu cầu của Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết, xét xử vụ án.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Ngọc H; về án phí dân sự sơ thẩm, buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1]Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Bùi Thị Ngọc H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Lê Hữu N vắng mặt lần thứ hai, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định pháp luật.
[2]Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 17/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp.
Trong quá trình hôn nhân, giữa chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N đã phát sinh mâu thuẫn, hiện nay không còn chung sống với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau, mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh N không đến tham gia, chứng tỏ anh N có thái độ bỏ mặc, không tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, trong khi chị H vẫn kiên quyết xin ly hôn với anh N.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ngọc H.
[2]Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Ngọc H và anh Lê Hữu N có một người con chung là Lê Hữu H1, sinh ngày 07/9/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, cháu H1 đều do chị Bùi Thị Ngọc H chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo ổn định cuộc sống, học tập của con chưa thành niên nên giao người con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi như chị H yêu cầu là phù hợp, đúng quy định pháp luật. Chị H có đủ điều kiện để nuôi con và không yêu cầu anh Lê Hữu N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Bùi Thị Ngọc H phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Bùi Thị Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngọc H được ly hôn với anh Lê Hữu N.
- Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao người con chung là Lê Hữu H1, sinh ngày 07/9/2018 cho chị Bùi Thị Ngọc H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê Hữu N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H2 đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000677 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền. Chị Bùi Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Anh Lê Hữu N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Xuân Cầm |
Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Ngọc Hà - Lê Hữu Nhật