Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03 - 02 - 2025.

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Liêm
Bùi Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Như Quỳnh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên toà.

Ngày 03 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 563A/2024/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 525/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thế K, sinh năm: 1994;

Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: số A đường L, khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Antonien S B, Cộng hòa Liên bang Đ. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Võ Thị Khánh L, sinh năm: 1990

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: khối A, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Hiện đang cư trú tại: G, S, 10243 B, F, Cộng hòa Liên bang Đ. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai (có chứng thực của Đ tại Cộng hòa Liên bang Đ), nguyên đơn anh Nguyễn Thế K trình bày:

Anh và chị Võ Thị Khánh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại Đ tại Cộng hòa Liên bang Đ. Sau khi kết hôn, thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc tại Cộng hòa Liên bang Đ. Trong quá trình chung sống do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không có tiếng nói chung. Nay, anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh K làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Võ Thị Khánh L.

Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuệ L1, sinh ngày 15/8/2018 và Nguyễn Thiên D, sinh ngày 31 tháng 8 năm 2020, hiện tại đang sinh sống cùng với chị L tại Đức. Nếu ly hôn, anh và chị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh K và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh K hiện đang cư trú và làm việc tại Cộng hòa Liên bang Đ, do bận công việc nên không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.

Theo bản tự khai và trình bày ý kiến về việc ly hôn (có chứng thực của Đ tại Cộng hòa Liên bang Đ), bị đơn chị Võ Thị Khánh L trình bày:

Chị đã biết anh K nộp đơn khởi kiện ly hôn với chị tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, vụ án đã được Tòa án thụ lý. Anh đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện. Chị và anh K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 8 năm 2018 tại Đ tại Cộng hòa Liên bang Đ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau và bất đồng về quan điểm sống. Hiện tại anh K và chị L sống ly thân. Nay chị L nhận thấy tình trạng hôn nhân đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh K yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì chị L cũng đồng ý.

Về con chung: Chị L và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuệ L1, sinh ngày 15/8/2018 và Nguyễn Thiên D, sinh ngày 31 tháng 8 năm 2020, hiện tại đang sinh sống với chị tại Đức. Nếu ly hôn, chị L có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Võ Thị Khánh L đang cư trú tại CHLB Đ, do đi lại khó khăn nên chị không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Thế K hiện đang cư trú tại CHLB Đ đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Võ Thị Khánh L hiện đang cư trú tại CHLB Đ; trước xuất cảnh, anh K và chị L có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 2 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì anh K và chị L đang ở nước ngoài.

Về sự vắng mặt của đương sự: Anh K và chị Võ Thị Khánh L hiện đang cư trú và làm việc tại CHLB Đ, không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh K và chị L đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt anh chị. Các đương sự phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về tài liệu và chứng cứ mà các bên đã nộp cho Tòa án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị L kết hôn với nhau vào trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau và bất đồng về quan điểm sống. Hiện tại, anh K và chị L đều xác định tình cảm vợ chồng không còn gắn kết đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa anh K và chị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cả hai vợ chồng đều mong muốn được ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, ghi nhận thuận tình ly hôn.

[3]. Về con chung: Chị L và anh K có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuệ L1, sinh ngày 15/8/2018 và Nguyễn Thiên D, sinh ngày 31 tháng 8 năm 2020, hiện tại đang sinh sống tại Đức. Nếu ly hôn, anh K tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy, các con chung hiện tại đang sinh sống ổn định cùng với chị L tại G, S, 10243 B, F, Cộng hòa Liên bang Đ, Do đó, giao các con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Anh K và chị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5]. Về án phí: Anh K và chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban T về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2 và khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Thế K và chị Võ Thị Khánh L.

2. Về con chung:

Anh Nguyễn Thế K và chị Võ Thị Khánh L có 02 chon chung: Nguyễn Tuệ L1, sinh ngày 15/8/2018 và Nguyễn Thiên D, sinh ngày 31 tháng 8 năm 2020.

Giao cho chị Võ Thị Khánh L được quyền trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung Nguyễn Tuệ L1, sinh ngày 15/8/2018 và Nguyễn Thiên D, sinh ngày 31 tháng 8 năm 2020 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh K và chị L tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thế K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của các con, khi có lý do chính đang hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Thế K và chị Võ Thị Khánh L không yêu cầu Tòa án chia tài sản khi ly hôn.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Thế K phải chịu 75.000 (Bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn đồng) anh K đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013050 ngày 26/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Trả lại cho anh Nguyễn Thế K tiền tạm ứng án phí 75.000 (Bảy mươi lăm nghìn) đồng.

Chị Võ Thị Khánh L phải chịu 75.000 (Bảy mươi lăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Thế K và chị Võ Thị Khánh L quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật../.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hải Minh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Hoa

Trần Mai Khanh

Nguyễn Thị Hải Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 03/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 33/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mâu thuận trầm trọng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger