|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/HC-ST
Ngày 06-6-2025
“V/v hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Chương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Vấn và bà Hoàng Thị Luyến
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Anh là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Dương Phúc Trường - Kiểm sát viên.
Trong hai ngày, ngày 28 tháng 5 và ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 125/2024/TLST-HC ngày 14 tháng 11 năm 2024 về “Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các đương sự:
-
Người khởi kiện: Ông Cao Văn K và bà Bùi Thị T; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung X; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông.
-
Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc D; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Chi nhánh Văn phòng Đ1.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lại Văn C; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị T1; cùng địa chỉ: Số C, đường S, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Ông Mai Văn D1 và bà Nguyễn Thị H; cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện của ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Năm 1998 gia đình ông Cao Văn K và bà Bùi Thị T khai khoang diện tích tọa lạc tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Sau khi khai hoang thì gia đình ông Cao Văn K sử dụng ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp với ai. Ngày 11-12-2006, gia đình ông Cao Văn K được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Đ cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 73; tờ bản đồ số 78; diện tích 17.138m². Năm 2019, UBND tỉnh Đ tiến hành đo đạc lại toàn bộ diện tích đất trên địa bàn xã Đ để thực hiện việc số hóa bản đồ. Qua quá trình đo đạc và xác định diện tích đất sử dụng thực tế ông Cao Văn K mới biết diện tích đất thực tế gia đình đang sử dụng chỉ là 9.713,2m², thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 17 (mới). Đồng thời, ông phát hiện phần diện tích đất đang sử dụng được cấp GCNQSDĐ nêu trên đã bị UBND huyện Đ cấp ngày 31-12-2009 cho gia đình ông Mai Văn D1 đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 78, diện tích 9.306m² theo GCNQSDĐ số BB 425768 và ngày 13-02-2009, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ1 chỉnh lý biến động cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1 tại trang 04. Nhận thấy, quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng do đó ông Cao Văn K và bà Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ số BB 425768 do UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 31-12-2009 cho ông Mai Văn D1, bà Nguyễn Thị H đồng thời tuyên hủy phần chỉnh lý biến động tại trang 04 ngày 13-02-2023 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ1 chỉnh lý cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1.
2. Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện trình bày:
2.1. Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ: Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Mai Văn D1 và bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 82, tờ bản đồ số 78 tọa lạc tại thôn T, xã Đ, huyện Đ đảm bảo về trình tự, thủ tục theo quy định tại Luật Đất đai và các quy định hiện hành tại thời điểm cấp GCN QSDĐ. Đối với trường hợp xảy ra việc cấp GCNQSDĐ chồng lấn, sai vị trí ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất. Trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông căn cứ vào kết quả kiểm tra, xác minh và các hồ sơ tài liệu có liên quan. UBND huyện Đ sẽ thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án đã có hiệu lực thi hành. Đồng thời, hướng dẫn các hộ gia đình, cá nhân có liên quan kê khai, đăng ký cấp GCNQSDĐ đất theo đúng vị trí, hiện trạng, ranh giới sử dụng thực tế và theo đúng quy định của pháp luật về đất đai. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông giải quyết theo quy định của pháp luật.
2.2. Người đại diện theo ủy quyền của Chi nhánh Văn phòng Đ1: Trình tự, thủ tục đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ1 thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Mai Văn D1, bà Nguyễn Thị H cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1 tại trang 04 GCNQSDĐ số BB 425768, thửa đất số 82, tờ bản đồ số 78, diện tích 9.296,75m² tọa lạc tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là đúng theo quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Ông Nguyễn Văn Đ và bà Đinh Thị T1: Gia đình ông Đ, bà T1 đã thực hiện thủ tục chuyển nhượng theo đúng quy định pháp luật và nộp các tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Tòa án do đó yêu cầu Tòa án giải quyết theo đúng quy định.
3.2. Ông Mai Văn D1 và bà Nguyễn Thị H: Quá trình sử dụng thửa đất nêu trên của gia đình từ khi canh tác sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai và có ranh giới rõ ràng. Năm 2022, gia đình ông D1, bà H đã chuyển nhượng cho ông Đ, bà T1 và thực hiện trình tự, thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
4. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng khoản 2 khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; khoản 4, 5 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T. Hủy GCNQSDĐ số BB 425768 do UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 31-12-2009 cho ông Mai Văn D1, bà Nguyễn Thị H đồng thời, hủy phần chỉnh lý biến động tại trang 04 ngày 13-02-2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 chỉnh lý cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 30-9-2024, Thanh tra huyện Đ ban hành Kết luận số: 05/KL-TTr đối với đơn kiến nghị của ông Cao Văn K. Ngày 09-10-2024, ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T khởi kiện vụ án hành chính là trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[1.2]. Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[2]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[2.1]. Tại Kết luận số: 05/KL-TTr ngày 30-9-2024 của Thanh tra huyện Đ về nội dung đơn phản ảnh, kiến nghị của ông Cao Văn K ghi nhận: Hộ ông Cao Văn K hiện canh tác, sử dụng đất ổn định tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 17 (thửa đất số 82, tờ bản đồ số 78 cũ), diện tích 9.713,2m² tọa lạc thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 425768 đối với thửa đất nêu trên cho hộ ông Mai Văn D1, bà Nguyễn Thị H được Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác nhận chỉnh lý biến động tại trang 04 cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1 là sai vị trí, trùng vào thửa đất của gia đình ông K. Mặt khác, hộ ông D1, bà H thực tế khai phá, canh tác, sử dụng ổn định thửa đất số 04, tờ bản đồ số 17 (nay đã chuyển nhượng cho ông Đ, bà T1 và thuộc thửa đất số 84, tờ bản đồ số 78 cũ), diện tích 5.576,7m² tọa lạc tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
[2.2]. Đồng thời, tại Biên bản xem xét thẩm định ngày 18-4-2025 ghi nhận: Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 17 do hộ ông Cao Văn K sử dụng và thửa đất số 04, tờ bản đồ số 17 do hộ ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1 sử dụng có ranh giới rõ ràng, quá trình sử dụng ổn định, không có tranh chấp trên thực địa.
[2.3]. Nguyên nhân dẫn đến việc cấp sai vị trí: Việc đăng ký kê khai cấp GCNQSDĐ của hộ ông Mai Văn D1, bà Nguyễn Thị H đã có nhầm lẫn. Đồng thời, do việc kiểm tra thực địa, hiện trạng từng vị trí lô đất để đối chiếu với bản đồ của Hội đồng xét duyệt cấp GCNQSDĐ xã Đ (năm 2009) và việc đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ1 cũng có sai sót.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T.
[3]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về án phí sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính. Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 4, 5 Luật Đất đai năm 2024; Điều 32 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T:
- Hủy GCNQSDĐ số BB 425768 do UBND huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cấp ngày 31-12-2009 cho ông Mai Văn D1, bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số thửa đất số 82, tờ bản đồ số 78. Hủy phần chỉnh lý biến động do Chi nhánh Văn phòng Đ1 chỉnh lý cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Đinh Thị T1 tại trang 04 ngày 13-02-2023.
- Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông và Chi nhánh Văn phòng Đ1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ cấp lại GCQNSDĐ theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ và Chi nhánh Văn phòng Đ1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Trả lại cho ông Cao Văn K, bà Bùi Thị T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số: 0002299, ngày 07-11-2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông.
- Về chi phí tố tụng: Buộc Ủy ban nhân dân huyện Đ và Chi nhánh Văn phòng Đ1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ. Tuy nhiên, người khởi kiện đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định trên. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện Đ và Chi nhánh Văn phòng Đ1 mỗi người phải trả lại cho người khởi kiện số tiền 5.575.000đồng (Năm triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Chương |
Bản án số 33/2025/HC-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 33/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận YCKK của ông Cao Văn V, bà Bùi Thị T
