|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2025/DS-ST
Ngày 27 – 3 – 2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Tấn Lộc
Ông Đặng Minh Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Trong các ngày 26 và 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 339/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST–DS ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1);
Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Đỗ Thành T, chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý.
Đại diện theo ủy quyền của ông T: Ông Lê Văn M, c hức vụ: Chuyên viên xử lý nợ V1;
Địa chỉ: Tầng C, số A, đường N, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Ngô Hữu H, sinh năm 1984; (vắng mặt)
Bà Trần Thị Lê N, sinh năm 1985; (vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 22/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/10/2020, ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N có ký hợp đồng tín dụng số LN2009192797731 với Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh C1 (gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền là 345.000.000 đồng, với mục đích bổ sung vốn mua xe ô tô, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 8,99%/năm cố định trong 12 tháng đầu tiên, được điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày đầu của quý tiếp theo, mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VND áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm cho khách hàng kỳ hạn 60 tháng được Ngân hàng công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh biên độ 3%/năm và số tiền nợ gốc khách hàng phải trả mỗi kỳ là 5.750.000 đồng và lãi hàng tháng trên dư nợ gốc.
Trong quá trình vay vốn, ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền là 246.605.175 đồng (trong đó vốn gốc 172.500.000 đồng, lãi 74.105.175 đồng và không tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng cho đến nay, hiện tại đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận như Hợp đồng tín dụng đã ký. Tính đến ngày 26/3/2025 ông H và bà N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 226.067.575 đồng, trong đó nợ gốc 172.500.000 đồng, lãi trong hạn 35.711.717 đồng, lãi quá hạn 17.855.858 đồng. Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H và bà N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 226.067.575 đồng, trong đó nợ gốc 172.500.000 đồng, lãi trong hạn 35.711.717 đồng, lãi quá hạn 17.855.858 đồng và buộc ông H, bà N phải tiếp tục thanh toán lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 27/3/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ cho Ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng nêu trên, để đảm bảo cho khoản vay, ngày 07/10/2020 Ngân hàng và ông H, bà N có ký hợp đồng thế chấp xe ô tô nhãn hiệu ISUZU biển số 69C-066.05; Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với hợp đồng thế chấp này trong cùng vụ án mà để Ngân hàng tự thỏa thuận riêng, nếu như ông H và bà N không thực hiện nghĩa vụ thì Ngân hàng sẽ yêu cầu theo quy định.
Ngày 27/5/2021, ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê Na K hợp đồng tín dụng số LN2106103854582 với Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh C1 vay số tiền là 210.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng, lãi suất 34%/năm. Trong quá trình vay vốn, ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N đã thanh toán đến ngày 15/5/2023 cho Ngân hàng được tổng số tiền là 199.104.778 đồng (trong đó vốn gốc 100.769.790 đồng, lãi trong hạn 65.566.659 đồng, lãi quá hạn 32.778.329 đồng) và không tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng cho đến nay, hiện tại đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận như Hợp đồng tín dụng đã ký. Tính đến ngày 26/3/2025 ông H và bà N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 199.104.778 đồng, trong đó nợ gốc 100.769.790 đồng, lãi trong hạn 65.566.659 đồng, lãi quá hạn 32.778.329 đồng Ngân hàng đã có yêu cầu khởi kiện vào ngày 22/10/2024. Nay Ngân hàng thương mại cổ phần V xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với Hợp đồng tín dụng số LN2106103854582 ngày 27/5/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh C1 với ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê Na .
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng ông H và bà N không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H và bà N.
[2] Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N để yêu cầu trả lại số tiền vay theo hình thức hợp đồng tín dụng. Vì vậy, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với hợp đồng tín dụng số LN2106103854582 với Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh C1 vay số tiền là 210.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng. Ngày 26/3/2025, Ngân hàng có đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê Na . Hội đồng xét xử xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với hợp đồng tín dụng số LN2106103854582 là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với Hợp đồng tín dụng số LN2009192797731 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V với ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N thực hiện ký kết hợp đồng tín dụng theo hình thức thế chấp tài sản theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện là thực tế có xảy ra, ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N đã vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh C1 với số tiền là 345.000.000 đồng với mục đích bổ sung vốn mua xe ô tô. Sau khi vay vốn, ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê Na C thanh toán cho Ngân hàng được số tiền tổng số tiền là 246.605.175 đồng (trong đó vốn gốc 172.500.000 đồng, lãi trong hạn 74.105.175 đồng và không tiếp tục thanh toán nợ cho Ngân hàng cho đến nay, hiện tại đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận như Hợp đồng tín dụng đã ký nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H, bà N thanh toán nợ tính đến ngày 26/3/2025 ông H và bà N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 226.067.575 đồng (trong đó nợ gốc 172.500.000 đồng, lãi trong hạn 35.711.717 đồng, lãi quá hạn 17.855.858 đồng). Hội đồng xét xử xét thấy việc ông H, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã làm thiệt hại đến quyền lợi của Ngân hàng, vi phạm hợp đồng vay đã ký kết, nên ông H và bà N phải chịu trách nhiệm đối với hợp đồng đã ký là phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền 226.067.575 đồng (nợ gốc 172.500.000 đồng, lãi trong hạn 35.711.717 đồng, lãi quá hạn 17.855.858 đồng) như Ngân hàng đã yêu cầu là phù hợp.
[5] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 27/3/2025 là phù hợp với nội dung của Án lệ số 08/2016/AL nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Khi ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng đồng thời ông H, bà N có ký kết hợp đồng thế chấp tài sản là xe ô tô nhãn hiệu ISUZU biển số 69C-066.05 để đảm bảo cho khoản vay. Đối với hợp đồng thế chấp này Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này; đối với ông H, bà N cũng không có ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này, nếu sau này các bên không tự thỏa thuận được có quyền yêu cầu thành vụ việc khác theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; ông H và bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11.303.400 đồng (226.067.575 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với hợp đồng tín dụng số LN2106103854582 ngày 27/5/2021 về việc vay số tiền 210.000.000 đồng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V – Chi nhánh C1 với ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê Na .
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V. Buộc ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 226.067.575 đồng (hai trăm hai mươi sáu triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm bảy mươi lăm đồng) (trong đó nợ gốc 172.500.000 đồng, lãi trong hạn 35.711.717 đồng, lãi quá hạn 17.855.858 đồng) và khoản lãi phát sinh kể từ ngày 27/3/2025 nếu như ông H, bà N không trả thì còn phải chịu lãi theo mức lãi suất của Hợp đồng tín dụng số LN2009192797731 ngày 07/10/2020 đã được các bên ký kết cho đến khi thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí:
- 3.1. Ngân hàng thương mại cổ phần V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng 9.471.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0016697 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình.
- 3.2. Ông Ngô Hữu H và bà Trần Thị Lê N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 11.303.400 đồng (mười một triệu ba trăm lẻ ba nghìn bốn trăm đồng); ông H và bà N chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông H và bà N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
Bản án số 33/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 33/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V - Ngô Hữu H
