Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/DS - ST

Ngày 01 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Thông

Ông Nguyễn Thế Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 và ngày 01/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2025/TLST – DS ngày 14/4/2025 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST- DS ngày 14 tháng 10 năm 2025.

Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1951
    CCCD số: [...]; cấp ngày 25/9/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH.
    Địa chỉ: TDP 2, phường Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1978
    Số định danh cá nhân: 038078019487
    Địa chỉ: TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976
      Số định danh cá nhân: 038176008851
    2. Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980
      Số định danh cá nhân: 038180024981
    3. Anh Nguyễn Đình H3, sinh năm 1983
      CCCD số: [...]; cấp ngày 03/01/2024; nơi cấp: Cục C về TTXH.
    4. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988
      CCCD số: [...]; cấp ngày 11/8/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH.
    5. Cháu Nguyễn Đình Minh V, sinh năm 2012 và cháu Nguyễn Đình Minh T, sinh năm 2018.

    Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Đình Minh V và Nguyễn Đình Minh T: Anh Nguyễn Đình H3 (bố đẻ).

Đều có địa chỉ tại: TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt các đương sự

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Bà và ông Nguyễn Đình H4 sinh được 04 người con gồm: Nguyễn Thị H1, Nguyễn Đình H, Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Đình H3.

Ông H4 chết ngày 02/3/2020, khi ông H4 còn sống vợ chồng đã lo vợ, gả chồng cho 04 con, trong đó 03 người là anh H, chị H1 và chị H2, mỗi người đều có một khu đất, nhà ở ổn định. Riêng anh H3 là con trai út ở với vợ chồng bà. Trước khi qua đời, bà và ông H4 đã bàn bạc thống nhất về việc để lại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của ông bà cho vợ chồng anh H3. Ngày 13/01/2020, bà và ông H4 có lập di chúc, di chúc do ông H4 tự viết tay cho con trai út là Nguyễn Đình H3 và vợ là Nguyễn Thị H1 cùng hai cháu nội là Nguyễn Đình Minh V, Nguyễn Đình Minh T được hưởng toàn bộ thửa đất và tài sản gắn liền với đất dưới sự thống nhất của hai ông bà và chứng kiến của hai con gái là Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị H2, ông bà chưa kịp công chứng thì ông H4 qua đời. Thửa đất ông H4 khi viết di chúc là thửa đất tại khu Q, tiểu khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 29/12/2017, số CL: 519645, số vào sổ: CH.01401. Ngày 05/02/2020 ông bà và chị Nguyễn Thị H2 đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho nhau để hình thành nên thửa đất mới như hiện nay là thửa 438, tờ bản đồ số 3B tại khu dân cư Đ, thị trấn T ( nay là TDP B,phường T) ông H4 chết trước khi được cấp GCNQSD đất mới.

Sau khi ông H4 qua đời, bà đã tổ chức họp gia đình cùng các con bàn về việc chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của vợ chồng cho con trai út là Nguyễn Đình H3. Trong cuộc họp có 05 mẹ con thì 04 người đồng ý theo di chúc, riêng anh Nguyễn Đình H không đồng ý.

Vì vậy, bà S yêu cầu Tòa án công nhận phần di chúc của ông H4 để lại, phần tài sản của bà trong khối tài sản chung với ông H4, bà tự nguyện giao lại toàn bộ cho vợ chồng anh H3 quản lý, sử dụng. Nếu Tòa án không công nhận di chúc, di sản của ông H4 phải chia theo pháp luật thì phần tài sản riêng của bà và phần thừa kế của bà được hưởng từ di sản của ông H4, bà tự nguyện giao lại tất cả nhà và đất cho con trai út là Nguyễn Đình H3 vì vợ chồng anh H3 lâu nay ở chung với ông bà và không có chỗ ở nào khác, bà không yêu cầu anh H3 phải thanh toán giá trị tài sản cho bà.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Đình H trình bày: Bố mẹ anh là ông Nguyễn Đình H4 và Lê Thị S kết hôn với nhau và sinh được 04 người con gồm: Nguyễn Thị H1, Nguyễn Đình H, Nguyễn Thị H2 và Nguyễn Đình H3.

Thửa đất bà S yêu cầu chia thừa kế có nguồn gốc của ông Nguyễn Đình H4 tại khu Q A, tiểu khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 29/12/2017, số CL: 519645, số vào sổ: CH.01401, nay là thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B, đất mang tên ông Nguyễn Đình H4 cấp ngày 28/02/2020.

Bố anh chết để lại di sản là thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B khu dân cư đập đá thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 199,4m². Bố anh chết ngày 02/3/2020 có để lại di chúc ngày 13/01/2020 theo nội dung di chúc là để lại thửa đất cho vợ chồng con cái anh Nguyễn Đình H3 làm nơi thờ cúng lâu dài (từ đời này sang đời khác), anh hoàn toàn đồng ý với di chúc như vậy, nhưng bà S, chị H1, chị H2 và anh H3 muốn chuyển đất này thành đất ở thương mại có thể mua bán, chuyển nhượng được, nên anh không đồng ý. Anh H thừa nhận di chúc này do bố anh viết và đồng ý với di chúc là để lại làm nơi thờ cúng, không được chia. Nếu phải chia, phần anh được nhận anh để lại làm nơi thờ cúng.

* Người có quyền lợi có quyền, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976 và chị Nguyễn Thị H2 thống nhất trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B, tại khu dân sư đập đá, thị trấn T, huyện T (Tổ dân phố B, phường T, tỉnh Thanh Hóa) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Đình H4; số giấy CU 475624, số vào sổ GCN: CH 01862, do UBND huyện T cấp ngày 28/02/2020 là của bố mẹ các chị (trước đây là thửa đất tại khu Q, tiểu khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 29/12/2017, số CL: 519645, số vào sổ: CH.01401). Ngày 13/01/2020 bố mẹ các chị viết di chúc để lại toàn bộ thửa đất này cho vợ chồng con cái em trai út là Nguyễn Đình H3.

Các chị đề nghị công nhận di chúc của bố để lại. Nếu phải chia theo pháp luật, phần đất và nhà chị em được nhận thì chị H1 và chị H2 tự nguyện giao lại cho vợ chồng anh Nguyễn Đình H3, vì tất cả các anh chị em trong gia đình đều đã được bố, mẹ lo cho chỗ ở ổn định, chỉ còn anh H3 là con út ở chung với bố mẹ chưa có nơi ở nào khác, chị H1 và chị H2 không yêu cầu anh H3 phải hoàn lại giá trị tài sản cho các chị.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Đình H3 trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B, tại khu dân sư đập đá, thị trấn T, huyện T (Tổ dân phố B, phường T, tỉnh Thanh Hóa) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Đình H4; số giấy CU 475624, số vào sổ GCN: CH 01862, do UBND huyện T cấp ngày 28/02/2020 là của bố mẹ anh (trước đây là thửa đất tại khu Q, tiểu khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 29/12/2017, số CL: 519645, số vào sổ: CH.01401. Ngày 13/01/2020 bố mẹ anh viết di chúc để lại toàn bộ thửa đất này cho vợ chồng anh, nên anh đề nghị công nhận di chúc của bố anh để lại. Nếu phải chia theo pháp luật, phần di sản anh được hưởng anh đề nghị được nhận kỷ phần thừa kế của mình và đề nghị trích chia công sức bảo quản di sản cho cho anh vì anh đã có công chăm sóc bố mẹ và ở trên đất này, phần di sản mẹ anh và các chị gái nhường lại anh đồng ý nhận vì hiện nay vợ chồng anh không có chỗ ở nào khác.

* Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988 (vợ anh H3) trình bày: Sau khi kết hôn với anh H3, vợ chồng ở chung với ông H4 và bà S, chị đề nghị công nhận di chúc của ông H4 để lại di sản của ông H4 cho vợ chồng chị quản lý, sử dụng.

Tại phiên tòa bà S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về kiến nghị về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định bản di chúc V/v chuyển giao tài sản ngày 13/01/2020 có hiệu lực một phần, công nhận sự tự nguyện của bà S giao toàn bộ tài sản là thửa đất 438, tờ bản đồ số 3B và tài sản trên đất có địa chỉ tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T ( N là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa cho vợ chồng anh Nguyễn Đình H3 và chị Nguyễn Thị H1 sử dụng và sở hữu. Anh H3 và chị H1 phải chịu án phí DSST đối phó phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia là 82.312.320 đồng và án phí không có giá ngạch đối với phần tài sản được bà S chuyển giao là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B có địa chỉ tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T (N là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa). Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về thừa kế tài sản” quy định tại khoản 5 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối tượng tranh chấp là bất động sản tại phường T, tỉnh Thanh Hóa, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế do ông Nguyễn Đình H4 để lại là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B có địa chỉ tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T (N là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa).

[2.1] Về thời hiệu thừa kế: Ông Nguyễn Đình H4 chết ngày 02/3/2020, thời hiệu chia di sản thừa kế là bất động sản vẫn còn theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự.

[2.2] Về hàng thừa kế:

Bố ông Nguyễn Đình H4 là cụ Nguyễn Đình T1 chết năm 1987, mẹ là cụ Vũ Thị H5 chết năm 1978; ông Nguyễn Đình H4 có vợ là bà Lê Thị S, ông H4 và bà S sinh được 04 người con gồm: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; Nguyễn Đình H, sinh năm 1978; Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980 và Nguyễn Đình H3, sinh năm 1983. Nên hàng thừa kế của ông H4 gồm bà Lê Thị S, chị Nguyễn Thị H1, anh Nguyễn Đình H, chị Nguyễn Thị H2 và anh Nguyễn Đình H3.

[2.3] Về di sản thừa kế:

Thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B, tại khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa)

Về nguồn gốc di sản này theo bà S và các con trình bày trước đây bà S và ông H4 có khu nhà đất tại khu Q, tiểu khu B, thị trấn T đất đã được cấp GCNQSD đất số CL 519645, số vào sổ CH 01401 do UBND huyện T cấp ngày 29/12/2017, nhưng do nguyện vọng của gia đình muốn đổi hướng đất từ hướng Bắc sang hướng Tây cho hợp phong thủy, nên đã đổi một phần cho gia đình con gái là Nguyễn Thị H2 để xây nhà theo hướng tây, đến ngày 28/02/2020 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624; nguồn gốc thửa đất theo trình bày của các đương sự phù hợp với tài liệu, chứng cứ do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp cho Tòa án.

Vì vậy, có căn cứ để xác định thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B, tại khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624 do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 28/02/2020 cho ông Nguyễn Đình H4 là tài sản chung của ông H4 và bà S, nên xác định di sản ông H4 để lại là ½ tài sản này.

[2.4] Xét hiệu lực của bản di chúc V/v chuyển giao tài sản ngày 13/01/2020:

Trước khi được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624, Ngày 13/01/2020 ông H4 và bà S lập di chúc, nội dung di chúc thể hiện ông H4 và bà S để lại toàn bộ di sản nhà và đất tại tiểu khu B, thị trấn T đất đã được cấp GCNQSD đất số CL 519645, số vào sổ CH 01401 do UBND huyện T cấp ngày 29/12/2017 cho vợ chồng anh Nguyễn Đình H3.

Xét nội dung bản di chúc ngày 13/01/2020, tuy nội dung bản di chúc thể hiện không chính xác thông tin về tài sản bởi ông H4 và bà S lập trước khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624 ngày 28/02/2020. Nhưng tất cả các đương sự đều khẳng định thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624 ngày 28/02/2020 là tài sản chung của ông H4 và bà S, ngoài thửa đất này ông H4 và bà S không còn thửa đất nào khác; Tất cả các đương sự đều thừa nhận bản di chúc do ông H4 tự viết và ký vào di chúc, khi viết di chúc ông H4 minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Bản di chúc có 02 trang cùng trong 01 tờ giấy A4, tuy ông H4 và bà S không ký hoặc điểm chỉ vào trang đầu, nhưng tất cả các đồng thừa kế của ông H4 đều thừa nhận đây là tài sản của ông H4 và bà S, bản di chúc này thể hiện đúng ý chí của của ông H4 về việc chuyển giao tài sản của mình cho vợ chồng anh Nguyễn Đình H3. Bản thân bị đơn anh H cũng thừa nhận bản di chúc này thể hiện đúng ý chí của bố anh, anh chỉ không đồng ý chuyển giao cho anh H3 sử dụng mà anh yêu cầu thực hiện đúng di chúc di sản chỉ để làm nơi thờ cúng lâu dài.

Anh H cho rằng việc anh H3 ký vào di chúc là không hợp pháp. Theo bà S trình bày khi ông H4 viết di chúc có sự chứng kiến của hai con gái là Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị H2, sau đó chị H1 và chị H2 có ký vào di chúc. Anh H3 trình bày sau khi bố anh viết di chúc anh có ký vào di chúc với tư cách chứng kiến việc bố, mẹ lập di chúc. HĐXX nhận định bản di chúc này do ông H4 tự viết và ký vào di chúc khi ông còn minh mẫn, sáng suốt, nên không bắt buộc di chúc này phải có người làm chứng, việc chị H1, chị H2 và anh H3 ký vào di chúc không vi phạm Điều 632 Bộ luật dân sự.

Từ những phân tích đánh giá trên có căn cứ xác định bản di chúc V/v chuyển giao tài sản ngày 13/01/2020 của ông H4 và bà S là hợp pháp, ông H4 chết ngày 02/3/2020 nên bản di chúc này có hiệu lực một phần.

[3] Xét yêu cầu của bà Lê Thị S về việc tự nguyện chuyển giao tài sản cho vợ chồng anh Nguyễn Đình H3:

Thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B, tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (nay là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa) Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624 do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 28/02/2020 cho ông Nguyễn Đình H4 là tài sản chung của ông H4 và bà S. Tài sản của bà S là ½ diện tích đất và tài sản trên đất, bà S tự nguyện chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho anh Nguyễn Đình H3 và vợ là chị Nguyễn Thị H1 được quản lý, sử dụng. Yêu cầu của bà S là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, anh H3 và chị H1 đồng ý nhận phần tài sản bà S chuyển giao.

Ngày 10/10/2025 Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ xác định thửa đất 438, tờ bản đồ số 3B có địa chỉ tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T (N là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa). Có diện tích thực tế là 203,7 m², tài sản trên đất là ngôi nhà 03 tầng do ông H4 và bà S xây dựng năm 2016. Vì vậy, xác định di sản ông H4 để lại là diện tích đất 101,85 m² và ½ giá trị tài sản trên đất; Tài sản của bà S là 101,85 m² đất và ½ giá trị tài sản trên đất. HĐXX có căn cứ để xác định bản di chúc V/v chuyển giao tài sản ngày 13/01/2020 của ông H4 và bà S là hợp pháp, bản di chúc này có hiệu lực một phần đối với ½ tài sản của ông H4 chuyển giao cho vợ chồng anh H3. Nên chấp nhận sự tự nguyện của bà S giao phần tài sản của bà cho vợ chồng anh H3 sở hữu, sử dụng là phù hợp.

Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà S giao toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 438, tờ bản đồ số 3B có địa chỉ tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T (N là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa) cho vợ chồng anh Nguyễn Đình H3 và chị Nguyễn Thị H1 sở hữu và sử dụng.

[4] Về án phí: Theo chứng thư thẩm định giá ngày 20/10/2025 của Công ty TNHH Q giá trị tài sản bao gồm nhà và đất là 5.031.232.000 đồng. Như vậy, giá trị di sản ông H4 để lại là 2.515.616.000 đồng. Anh Nguyễn Đình H3 và chị Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản được chia là 82.312.320 đồng và án phí không có giá ngạch đối với phần tài sản được bà S chuyển giao là 300.000 đồng.

[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Bà Lê Thị S tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
    Các Điều 611, 624, 625, 628, 630, 631 và Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2015;
    Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình;
    Khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013;
    Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S:

    * Giao cho anh Nguyễn Đình H3 và chị Nguyễn Thị H1 (vợ anh H3) được quyền sở hữu và sử dụng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 438, tờ bản đồ số 3B có địa chỉ tại Khu dân cư Đ, thị trấn T, huyện T (N là TDP B, phường T, tỉnh Thanh Hóa) đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU475624 do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 28/02/2020 cho ông Nguyễn Đình H4

    * Anh Nguyễn Đình H3 và chị Nguyễn Thị H1 có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký và điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: anh Nguyễn Đình H3 và chị Nguyễn Thị H1 phải chịu 82.612.320 đồng (tám mươi hai triệu, sáu trăm mười hai nghìn, ba trăm hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND khu vực 9, Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2025/DS - ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 33/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger