|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/DS-PT Ngày 19 – 3 - 2025 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và buộc tháo dỡ công trình xây dựng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Đoan Trang
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Mai
Ông Nguyễn Duy Sơn
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14 và 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và buộc tháo dỡ công trình xây dựng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 46/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế X, sinh năm 1970; cư trú tại: Tổ dân phố K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1974; cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984, (có mặt)
- Ông Tạ Quang H2, sinh năm 1979, (có mặt)
- Bà Hà Thị T, sinh năm 1975; cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ông Lê Văn N, sinh năm 1978, (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1981, (vắng mặt)
- Cụ Vũ Thị M, sinh năm 1945, (vắng mặt)
- Bà Vũ Thị H4, sinh năm 1974; cư trú tại: TDP K, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn S.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984; cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; cư trú tại: Thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/8/2022, ngày 30/3/2024), (có mặt.)
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Đức H1, sinh năm 1975; cư trú tại: Số B B N, quận C, thành phố Hà Nội, (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/02/2025), (có mặt)
Cùng cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc
Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Trần Đức H1, sinh năm 1975; cư trú tại: Số B B N, quận C, thành phố Hà Nội, (Theo văn bản ủy quyền ngày 19/02/2025), (có mặt)
Cùng cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện hợp pháp của cụ M: Ông Trần Đức H1, sinh năm 1975; cư trú tại: Số B B N, quận C, thành phố Hà Nội, (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/3/2025), (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà H4: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984; cư trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2022, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Ngày 10/10/2012, vợ chồng ông Nguyễn Thế X và bà Vũ Thị H4 đã nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn N quyền sử dụng thửa đất số 400, tờ bản đồ số 1, diện tích 105m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Trên diện tích đất này có 01 gian nhà cấp 4 đã cũ nên ông N và ông X thỏa thuận để cụ M là mẹ đẻ ông N tiếp tục ở trên gian nhà này trong thời hạn 03 năm. Việc chuyển nhượng được hai bên lập thành văn bản và chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T. Sau đó, ông bà X, H4 đã thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Đến ngày 29/01/2013, gia đình ông bà X, H4 được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM020654, số vào sổ cấp GCN: CH01745 đối với thửa đất nêu trên, đứng tên hộ ông Nguyễn Thế X.
Tuy nhiên, do ông bà X, H4 đang sinh sống làm ăn tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nên kể từ thời điểm hoàn thành việc chuyển nhượng đất, ông bà X, H4 chưa có nhu cầu sử dụng đất trên thực tiễn. Đến ngày 20/6/2017, ông bà X, H4 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên cho ông Tạ Quang H2 và bà Nguyễn Thị Đ. Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 1216/2017, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD.
Trong quá trình thực hiện thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng nêu trên thì ông Lê Văn S đã có hành vi ngăn cản, đổ phế liệu và quây proximang đối với thửa đất mà ông bà X, H4 mua, uy hiếp cán bộ thuộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, sử dụng bạo lực đối với bà Đ, khiến việc đo đạc kiểm tra hiện trạng đất không thể thực hiện được. Kể từ đó đến nay, ông Lê Văn S vẫn tiếp tục quây proximang, đổ phế liệu và chiếm dụng trái phép thửa đất của vợ chồng ông Nguyễn Thế X đã bán cho vợ chồng ông H2 bà Đ.
Tính đến thời điểm hiện tại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông X, bà H4 đang có giá trị pháp lý nên hộ ông Nguyễn Thế X là chủ sử dụng đất hợp pháp, được Nhà nước và pháp luật thừa nhận đối với thửa đất số 400, tờ bản đồ số 1, diện tích 105m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Việc ông Lê Văn S có hành vi cản trở, không cho gia đình ông Nguyễn Thế X thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất là hành vi trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, được pháp luật công nhận của hộ ông Nguyễn Thế X. Do đó, ông Nguyễn Thế X khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Văn S trả lại cho vợ chồng ông bà X, H4 thửa đất số 400, tờ bản đồ số 01, diện tích 105m² tại địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Buộc ông S tháo dỡ toàn bộ phần proximang, di dời đống phế liệu và toàn bộ các vật dụng khác trên thửa đất của vợ chồng ông X.
Bị đơn ông Lê Văn S và người đại diện hợp pháp của ông S trình bày:
Gia đình ông Lê Văn S có thửa đất số 178, tờ bản đồ số 1, diện tích 300m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguồn gốc đất là do ông cha để lại, đến ông S là đời thứ ba được kế thừa. Cả gia đình ông S gồm ba thế hệ (ông bà, bố mẹ, con cháu cùng sinh sống trên mảnh đất này).
Năm 1992, ông S được Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 911046 cho thửa đất số 178. Em trai ông S là ông Lê Văn N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất số 177, tờ bản đồ số 1, diện tích 265m², từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai gia đình vẫn sử dụng diện tích đất này ổn định, không xảy ra tranh chấp với các hộ liền kề.
Năm 2013, ông N làm ăn không thuận lợi nên đã bán một phần diện tích đất của mình cho ông Nguyễn Thế X với diện tích là 105m², hai bên mua bán và giao kèo với nhau như thế nào ông hoàn toàn không biết vì lúc này vợ chồng ông đi làm kinh tế trong miền N.
Ngày 03/11/2022, ông nhận được Thông báo thụ lý vụ án số: 71/TB-TLVA ngày 24/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc. Lúc này ông mới biết ông bị ông Nguyễn Thế X khởi kiện đòi lại phần đất của gia đình nhà mình vẫn đang sử dụng.
Sau khi được cung cấp tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án ông biết rằng phần diện tích đất ông X được cấp chồng lấn lên phần diện tích đất ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, ông làm đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết những yêu cầu sau:
Thứ nhất: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế X vì việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Thế X và ông Lê Văn N là không hợp pháp, không căn cứ vào bản đồ, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phú cấp cho ông và ông Lê Văn N năm 1992.
Thứ hai: Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Lê Văn N và ông Nguyễn Thế X do Ủy ban nhân dân xã T công chứng ngày 10/10/2012 là vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Thứ ba: Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BM 020655, số vào sổ cấp GCN: CH01746 do UBND huyện Y cấp ngày 29/01/2013 cho hộ ông Lê Văn N.
Thứ tư: Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BM 020654, số vào sổ cấp GCN: CH01745 do UBND huyện Y cấp ngày 29/01/2013 cho hộ ông Nguyễn Thế X.
Thứ năm: Tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1216/2017, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 20 tháng 06 năm 2017. Giữa ông Nguyễn Thế X và bà Nguyễn Thị Đ.
Đối với tài sản trên đất là gian nhà cấp 4 kèm sân và mái tôn trên diện tích đất đang tranh chấp là do ông S xây dựng, trường hợp bắt buộc phải tháo dỡ thì yêu cầu ông X phải bồi thường toàn bộ giá trị theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hà Thị T và người đại diện hợp pháp của bà T trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình bày của ông Lê Văn S, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn N trình bày:
Ông xác nhận về nguồn gốc thửa đất số 177 và 178 như lời trình bày của ông S. Năm 2013, do làm ăn không thuận lợi nên ông đã bán một phần diện tích 105m² đất của mình cho ông X. Sau khi làm hợp đồng mua bán, ông đã đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông cho ông X đi làm các thủ tục tách thửa và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Thủ tục ông X đi làm như thế nào ông hoàn toàn không biết vì lúc này ông đang đi làm kinh tế trên Lào Cai. Ông đề nghị Tòa án giải quyết theo ý kiến của ông S, ông không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H3 không chấp hành theo Giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt trong các buổi làm việc và các phiên tòa nên không thể hiện ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cụ Vũ Thị M và người đại diện hợp pháp của cụ M trình bày:
Cụ là mẹ đẻ của ông N và ông S. Trước kia gia đình cụ ở theo nếp nhà hiện tại mà cụ đang ở. Khi cụ chia đất cho các con thì phần của ông S theo nếp nhà cũ tức là đất chạy dọc giáp các hộ dân liền kề, phần đất của ông N là phần đất ao tiếp giáp với đường ngõ. Sau đó gia đình cụ lấp ao, ông N, ông S cùng thống nhất xây nhà như hiện nay, ông S xây nhà năm 2012. Việc ông N bán đất cho ông X như thế nào cụ không được biết. Gian nhà cấp 4 cụ đang ở là do ông S xây cho cụ vào năm 2008. Thời điểm ông N bán đất cho ông X thì cụ đi chơi nhà các em nên cụ không biết việc mua bán đất nhà như thế nào. Khi cụ về nhà thì cũng được nghe nói và được biết. Đến nay, ông X yêu cầu ông S trả lại đất cho ông X, việc đất cát của hai ông như thế nào thì cụ không biết, riêng ngôi nhà cụ đang ở cụ đề nghị được giữ lại để cụ có nhà ở.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị H4 và người đại diện hợp pháp của bà H4 trình bày:
Năm 2013, vợ chồng bà có mua 105m² đất của ông Lê Văn N. Đến năm 2017, do không có nhu cầu sử dụng nên vợ chồng bà đã bán lại cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Tạ Quang H2. Tuy nhiên, khi ông H2, bà Đ thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất vợ chồng bà đã bán thì ông S ngăn cản. Bà đồng ý với ý kiến của ông X và không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Việc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông Lê Văn N và vợ chồng ông Nguyễn Thế X được thực hiện theo trình tự, thủ tục đúng quy định. Việc tách thửa và chuyển nhượng một phần thửa đất được hai bên thực hiện phù hợp với hiện trạng sử dụng đất, có sự tham gia chứng kiến của ông Đường Vinh T1 – Nguyên Cán bộ địa chính xã, ông Nguyễn Tất N1 – Trưởng thôn Đ, ông Trần Văn H5 – Cán bộ hợp đồng địa chính xã, đặc biệt là sự có mặt chứng kiến của ông Lê Văn S tại thực địa thửa đất để đo đạc, xác định mốc giới thửa đất. Còn việc Bản đồ địa chính năm 1992 vẽ không đúng hiện trạng sử dụng của thửa đất số 177 và 178 là do lỗi của cơ quan Nhà nước quản lý, bản thân ông N và ông X không thể tự ý vẽ hoặc chỉnh lý bản đồ.
Do vậy cần tôn trọng thực tế sử dụng đất của các bên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM020654 đứng tên hộ ông Nguyễn Thế X được cấp đúng trình tự pháp luật, đúng ý chí nguyện vọng của các bên. Do đó, không có căn cứ để hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM020654.
Ngày 20/6/2017, khi vợ chồng ông Nguyễn Thế X ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Đ, vợ chồng ông Nguyễn Thế X đang là chủ sử dụng đất hợp pháp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BM020654; đất không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, đang trong thời hạn sử dụng đất. Việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng được 2 bên thực hiện trên tinh thần tự nguyện không bị ép buộc, trong trạng thái tinh thần tỉnh táo minh mẫn, được lập thành văn bản và được công chứng tại Văn phòng C (tỉnh Vĩnh Phúc). Như vậy, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1216/2017, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C công chứng ngày 20/6/2017 giữa vợ chồng ông Nguyễn Thế X và vợ chồng bà đã đáp ứng đủ điều kiện được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, ông Lê Văn S yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông Nguyễn Thế X và vợ chồng bà là không có căn cứ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Quang H2 trình bày:
Thống nhất với ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị Đ, không bổ sung gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
- Căn cứ Điều 158, Điều 164, Điều 169 Bộ luật Dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 147, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 12, Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Áp dụng Án lệ số 40/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/02/2021;
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế X
- Buộc ông Lê Văn S phải chấm dứt hành vi sử dụng trái phép, cản trở quyền của người sử dụng đất, tháo dỡ 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 21,2m²; 01 lán tôn diện tích 15,8m²; 01 vách tôn dài 6,7m cao 02m cùng các tấm tôn, proximang và các đồ vật khác để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thế X. Trường hợp không tự nguyện tháo dỡ sẽ bị cưỡng chế theo quy định và ông S phải chịu toàn bộ chi phí cho việc cưỡng chế.
- - Phía Đông giáp đường ngõ giới hạn bởi các điểm HI kích thước HI= 4,59m;
- - Phía Tây giáp đất nhà ông Nguyễn Thiên S1 kích thước XY= 3,60m;
- - Phía Nam giáp thửa đất gia đình ông Lê Văn S đang sử dụng kích thước XI= 25,28m
- - Phía Bắc giáp thửa đất gia đình ông Lê Văn N đang sử dụng giới hạn bởi các điểm Y, Q, T, H kích thước XQ= 10,04m; QT= 0,95m; TH = 14,96m
- Buộc cụ Vũ Thị M phải chuyển chỗ ở để trả lại diện tích đất nêu trên cho ông Nguyễn Thế X.
Thửa đất có các chiều cạnh cụ thể như sau:
(Theo trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 24/8/2023 do Công ty Cổ phần K cung cấp kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn quyết định nghĩa vụ thi hành án, giải quyết chi phí tố tụng, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 26/8/2024, bị đơn ông Lê Văn S có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm trình bày. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; đương sự đã chấp hành đúng nghĩa vụ và được thực hiện đầy đủ quyền hạn của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn S; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc hỗ trợ thanh toán cho cụ M 10.000.000 (mười triệu đồng) giá trị ngôi nhà cấp 4.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn S làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị H3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
Năm 1992, UBND huyện V, tỉnh Vĩnh Phú (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 911046 đối với thửa 178, diện tích 300m² cho hộ ông Lê Văn S; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 020655 đối với thửa 177, diện tích 265m² cùng tờ bản đồ 01 cho hộ ông Lê Văn N có địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 10/10/2012, ông Lê Văn N ký hợp đồng chuyển nhượng 105m² đất là một phần diện tích trong thửa đất số 177 cho vợ chồng ông Nguyễn Thế X và bà Vũ Thị H4. Sau khi chuyển nhượng, cả hai bên đã thực hiện thủ tục tách thửa và đều được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới. Hộ ông Nguyễn Thế X được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 020654 đối với thửa đất số 400, tờ bản đồ số 1, diện tích 105m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 20/6/2017, ông X, bà H4 chuyển nhượng lại phần đất nêu trên cho ông Tạ Quang H2, bà Nguyễn Thị Đ, Hợp đồng được Công chứng tại Văn phòng C1. Trong quá trình thực hiện thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp với ông Lê Văn S. Ông S dựng thêm một số công trình trên đất, quây proximang, đổ phế liệu và chiếm dụng trái phép thửa đất của vợ chồng ông Nguyễn Thế X đã bán cho vợ chồng ông H2 bà Đ.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn S, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Ông Lê Văn N và ông Lê Văn S là hai anh em và là con của cụ Vũ Thị M. Năm 1992, ông S và ông N được UBND huyện V, tỉnh Vĩnh Phú (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 178 và thửa số 177, cùng tờ bản đồ số 1 có nguồn gốc là do cha ông để lại.
Qua xác minh tại địa phương: Tại sổ mục kê, sổ Địa chính và Bản đồ 299 đều thể hiện: Thửa đất số 177, tờ bản đồ 01, diện tích 265m² đứng tên chủ sử dụng đất là ông Lê Văn N; Thửa đất số 178, tờ bản đồ số 1, diện tích 300 m² đứng tên chủ sử dụng ông Lê Văn S. Tại số cấp giấy chứng nhận: Số thứ tự 0964 đứng tên ông Lê Văn N, số Giấy chứng nhận B 911047, số thửa 177, diện tích 265m²; Số thứ tự 0965 đứng tên ông Lê Văn S, số Giấy chứng nhận B 911046, số thửa 178, diện tích 300m². Theo bản đồ 299 thì hình thể thửa số 177 và 178 nằm song song với đường ngõ, trong đó thửa số 177 ở phía ngoài giáp đường ngõ, còn thửa số 178 nằm ở phía trong và không có lối đi ra. Tuy nhiên trên thực tế, thửa đất số 177 và 178 được ông Lê Văn S và ông Lê Văn N sử dụng, xây dựng nhà ở ổn theo hình thể vuông góc với đường ngõ, cả hai thửa đều có mặt tiền và lối đi hướng ra đường ngõ. Điều này được thể hiện trên trích lục bản đồ và biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 25/12/2012. Như vậy, hình thể hai thửa đất 177 và 178 mà ông S và ông N đang sử dụng trên thực tế không đúng theo bản đồ 299 năm 1992.
Tại Kết luận thẩm tra số 01/KL-TTr ngày 21/02/2019 của Thanh tra huyện Y kết luận: “...bản đồ đo vẽ năm 1992 vẽ không đúng hiện trạng sử dụng đất của hộ ông Lê Văn N và ông Lê Văn S tại thửa đất số 177, 178 trong đó thể hiện thửa số 178 nằm phía trong không có lối đi vào, không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của 02 hộ nhưng chưa được chỉnh lý, điều chỉnh theo hiện trạng.
Thửa đất số 178, tờ bản đồ số 01 đứng tên chủ sử dụng ông Lê Văn S trên bản đồ địa chính đo vẽ năm 1992 không phù hợp với hiện trạng sử dụng đất của hộ ông Lê Văn S, thôn Đ, xã T do bản đồ đo vẽ năm 1992 thể hiện thửa đất số 178 nằm song song ngõ đi chung và ở phía trong, không có lối đi vào trong khi thực tế hộ ông Lê Văn S sử dụng thửa đất vuông góc ngõ đi chung và cạnh phía Đông giáp ngõ đi chung.”
Kết luận thẩm tra của Thanh tra huyện Y cũng giao cho UBND xã T trình cấp có thẩm quyền chỉnh lý bản đồ năm 1992 đối với thửa đất số 177, 178 tờ bản đồ số 01 theo đúng hiện trạng sử dụng đất của các hộ dân. UBND xã T tiến hành làm việc với ông Lê Văn S và ông Lê Văn N nhưng họ không đồng ý do vậy UBND xã T không lập được hồ sơ để chỉnh lý Bản đồ 299 phù hợp với thực tế sử dụng đất.
[3.2] Trong quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, Tòa án chỉ thu thập được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 400, tờ bản đồ số 01, đang được lưu trữ tại Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Y; không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 177, 178 do từ năm 1996 huyện Y được tách từ huyện V không có biên bản bàn giao hồ sơ cấp giấy. Trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 020654 đối với thửa 400 do UBND huyện Y cấp ngày 29 tháng 01 năm 2013 cho ông Nguyễn Thế X, tại trích lục bản đồ và biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 25/12/2012 (BL 85) hiện trạng đo vẽ đúng như hiện trạng sử dụng, có chữ ký xác nhận của ông N, ông X và xác nhận của UBND xã T.
Qua kiểm tra hồ sơ giải quyết theo Kết luận thẩm tra số 01, trong hồ sơ có 01 biên bản xác nhận ranh giới mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử dụng đề ngày 05/6/2008, tên chủ sử dụng đất Lê Văn S, Hà Thị T do cụ M là mẹ đẻ ký thay. Hình thể thửa đất hộ ông Lê Văn S trong biên bản đúng như hiện trạng sử dụng, phù hợp với lời khai của cụ Vũ Thị M.
Việc ông S cho rằng khi ông N bán đất cho ông X, vợ chồng ông không biết là không có căn cứ vì thực tế gia đình ông đã sử dụng thửa đất liên tục, xây dựng các công trình kiên cố như nhà, cổng, sân gạch, bản thân ông chính là người xây dựng tường rào phân định ranh giới rõ ràng giữa hai thửa đất. Do vậy có căn cứ để xác định giữa ông Lê Văn S và ông Lê Văn N đã có sự thỏa thuận thống nhất về việc sử dụng đất không theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1992, tuy nhiên ông N và ông S không thực hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Căn cứ Án lệ số 40/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 23/02/2021 thì giữa ông Lê Văn S và ông Lê Văn N chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế, không có thỏa thuận bằng văn bản; các bên đã sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp, đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển đổi. Nên phải công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế; các bên có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã chuyển đổi.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 911046 cấp ngày 05/12/1992 đứng tên ông Lê Văn S không đúng với hiện trạng sử dụng nên cần kiến nghị UBND huyện Y thu hồi và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
[3.3] Xét hợp đồng chuyển nhượng ngày 10/10/2012 giữa vợ chồng ông N và vợ chồng ông X, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo những phân tích nêu trên, ông S và ông N được công nhận việc chuyển đổi đất trên thực tế. Do đó, ông N có quyền thực hiện các quyền đối với thửa đất được công nhận, trong đó có quyền chuyển nhượng. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 10/10/2012 giữa ông N và ông X được thực hiện dựa trên ý chí tự nguyện của các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi; được chứng thực đúng quy định; không vi phạm điều cấm của pháp luật. Tại Kết luận thẩm tra số 01 ngày 21/02/2019, Thanh tra huyện Y kết luận: “ Hồ sơ chuyển nhượng 1 phần thửa đất số 177 của ông Lê Văn N cho ông Nguyễn Thế X thực hiện tháng 12/2012 được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định”. Do vậy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông N và vợ chồng ông X là hợp pháp. Vợ chồng ông X đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên giao dịch chuyển nhượng nêu trên được pháp luật bảo vệ. Vợ chồng ông Nguyễn Thế X có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 400, tờ bản đồ số 01 diện tích 105,1m² tại thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Yêu cầu của ông Lê Văn S đề nghị Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn N và ông Nguyễn Thế X ngày 10/10/2012 vô hiệu, giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ, không được chấp nhận. Điều đó đồng nghĩa với việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Lê Văn N, hộ ông Nguyễn Thế X là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện Y vào tham gia tố tụng và chuyển thẩm quyền vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết là đúng quy định pháp luật, không vi phạm tố tụng về thẩm quyền xét xử. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ, không được chấp nhận.
[3.4] Đối với tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 21,2m² do ông S xây cho cụ M ở. Khi chuyển nhượng, ông N đã thỏa thuận với ông X cho cụ M được tiếp tục sử dụng trong ba năm sẽ trả lại cho ông X. Việc thỏa thuận này đã được thể hiện bằng văn bản và được ông N xác nhận về tính chân thực của chữ ký, chữ viết trong văn bản tại phiên tòa phúc thẩm. Điều đó chứng tỏ ông N đã đồng ý chuyển nhượng cả tài sản là ngôi nhà trên đất cho ông X. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, nếu ông S có yêu cầu bồi thường giá trị ngôi nhà thì dành quyền khởi kiện cho ông S đối với ông N trong một vụ án khác là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông S và cũng là người đại diện theo ủy quyền của cụ M thay đổi quan điểm, khẳng định: Mặc dù ngôi nhà do ông S xây nhưng ông S đã cho cụ M, cụ M có toàn quyền sử dụng. Ông S không có yêu cầu bồi thường gì đối với ngôi nhà này. Còn phía nguyên đơn là ông Nguyễn Thế X, mặc dù không có trách nhiệm bồi thường giá trị ngôi nhà trên đất nhưng đã tự nguyện trả cho cụ M số tiền 10.000.000 đồng là giá trị ngôi nhà trên đất (lớn hơn so với giá trị ngôi nhà được định giá) để đảm bảo quyền lợi, ổn định cuộc sống cho cụ M. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, cần ghi nhận. Ông X có quyền sử dụng đối với ngôi nhà 21,1m² trên đất.
[3.5] Đối với 01 lán tôn diện tích 15,8m²; 01 vách tôn dài 6,7m, cao 02m cùng các tấm tôn, proximang là các công trình, tài sản trên đất do ông S dựng lên sau khi vợ chồng ông N đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông X. Do vậy, đây là các công trình trái phép, gây cản trở quyền sử dụng đất của vợ chồng ông X, cần buộc ông S phải tháo dỡ các công trình trên, chấm dứt hành vi cản trở trái phép quyền sử dụng đất của vợ chồng ông X.
[4] Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tuy nhiên do phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm nên cần phải sửa Bản án sơ thẩm cho phù hợp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là có căn cứ, cần chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Xác nhận nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.000.000 đồng.
[6] Về án phí:
[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Do Tòa án thụ lý yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập của ông Lê Văn S là không đúng nên tiền tạm ứng án phí đã nộp được trả lại cho ông Lê Văn S.
[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông S không được chấp nhận nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn S. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ Điều 158, Điều 164, Điều 169 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 147, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 12, Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Án lệ số 40/2021/AL ngày 23/02/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế X.
- Buộc ông Lê Văn S phải chấm dứt hành vi sử dụng trái phép, cản trở quyền của người sử dụng đất, tháo dỡ 01 lán tôn diện tích 15,8m²; 01 vách tôn dài 6,7m, cao 02m cùng toàn bộ phần proximang và các vật dụng khác để trả lại cho ông Nguyễn Thế X 105,1m². Thửa đất có các chiều cạnh cụ thể như sau:
- - Phía Đông giáp đường ngõ giới hạn bởi các điểm H, I có số đo HI= 4,59m;
- - Phía Tây giáp đất nhà ông Nguyễn Thiên S1 kích thước XY= 3,60m;
- - Phía Nam giáp thửa đất gia đình ông Lê Văn S đang sử dụng kích thước XI= 25,28m
- - Phía Bắc giáp thửa đất gia đình ông Lê Văn N đang sử dụng giới hạn bởi các điểm Y, Q, T, H kích thước YQ= 10,04m; QT= 0,95m; TH = 14,96m
- Giao cho ông Nguyễn Thế X được quyền sử dụng 01 ngôi nhà cấp 4 diện tích 21,2m² trên diện tích đất 105,1m².
- Ông Nguyễn Thế X tự nguyện hỗ trợ cho cụ Vũ Thị M số tiền 10.000.000 đồng.
- Kiến nghị UBND huyện Y thu hồi và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 911046 cấp ngày 05/12/1992 đứng tên ông Lê Văn S không đúng với hiện trạng sử dụng.
- Về chi phí tố tụng: Xác nhận nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá tài sản là 5.000.000 đồng.
- Về án phí:
(Có sơ đồ kèm theo).
Án phí sơ thẩm: Ông Lê Văn S được trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001646 ngày 05/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc và phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thế X không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được trả lại 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001450 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.
Án phí phúc thẩm: Ông Lê Văn S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003389 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Đoan Trang |
Bản án số 33/2025/DS-PT ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất và buộc tháo dỡ công trình xây dựng
- Số bản án: 33/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và buộc tháo dỡ công trình xây dựng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và buộc tháo dỡ công trình xây dựng
