|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2025/DS - PT Ngày: 13/3/2025 V/v: Tranh chấp kiện đòi nợ. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Lam;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Sơn;
Bà Nguyễn Thị Hải Minh.
Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Bích Thái -Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2025/TLPT-DS ngày 10/02/2025 về “Tranh chấp kiện đòi nợ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DSST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 43/2025/QĐ-PT ngày 05/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Xuân V, sinh năm 1945. Địa chỉ: Số nhà D, đường A, khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Có mặt).
- Các bị đơn:
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1971. Địa chỉ: Khối C, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thảo N, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khối C, Thị trấn T huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Trần Xuân V, sinh năm 1945. Địa chỉ: Số nhà D, đường A, khối B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Có mặt).
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, ông Trần Xuân V trình bày như sau:
Trước năm 2021, bà Trần Thị T vay của ông số tiền 118.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân, có xác lập giấy vay tiền với nội dung “ ...Bà Trần Thị T thế chấp cho ông Trần Xuân V số tài khoản tiền lương để vay số tiền 118.000.000 đồng với thời hạn vay là 3 tháng kể từ ngày 16/4/2020...” có xác nhận của Trường THPT T1.
Sau khi vay bà Trần Thị T đã thanh toán cho ông được số tiền là 18.000.000 đồng, còn nợ lại 100.000.000 đồng. Đến ngày 10 tháng 2 năm 2021 thì bà Trần Thị T và con gái là chị Nguyễn Thảo N đến nhà của ông, bà T và chị N đã viết giấy vay tiền với nội dung là “Hai mẹ con có vay tiền mặt của ông Trần Xuân V số tiền 100.000.000 đồng và hẹn đến ngày 30/4/2021 thì thanh toán đầy đủ. Nếu trả số tiền đó đúng theo cam kết sẽ không tính tiền lãi. Nếu quá hạn thanh toán thì phải thanh toán khoản tiền lãi từ ngày 10/2/2021 cho đến ngày trả hết nợ với mức lãi suất hàng tháng là 3.000.000 đồng”
Đến nay bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N vẫn chưa trả được số tiền đã vay như đã cam kết, nên nguyên đơn ông Trần Xuân V yêu cầu bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N phải trả các khoản tiền sau:
- Tiền gốc 100.000.000 đồng.
- Tiền lãi trong hạn 100.000.000 đồng x 3 tháng x 20%/năm = 5.000.000 đồng.
- Tiền lãi quá hạn tính từ ngày 30/4/2021 là 41 tháng x 100.000.000 đồng x 20%/năm x 150% = 102.500.000 đồng.
- Tổng số tiền lãi trong hạn và quá hạn là 107.500.000 đồng
- Tiền lãi phạt của lãi quá hạn là 107.500.000 đồng x 21 tháng x 10%/năm = 18.980.000 đồng.
Yêu cầu bà T và chị N phải sử dụng lương của họ thế chấp làm tài sản bảo đảm.
Số tiền bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N vay là tài sản riêng của ông.
- Ý kiến của bị đơn bà Trần Thị T:
Bà thừa nhận việc vay tiền của ông V vào năm 2021 và đã trả được một khoản 18.000.000đ, khi vay bà đã làm đơn đề nghị Trường THPT Thanh Chương 1 xác nhận hiện tại bà đang hưởng lương từ nguồn chi trả qua Trường THPT T1 và có xác nhận của Hiệu trường nhà trường.
Khả năng trả số tiền còn lại đang vay ông V là 100.000.000đ sẽ gặp khó khăn nên ngày 10/2/2021 bà và con gái là chị Nguyễn Thảo N đã đến gặp ông Trần Xuân V để xin gia hạn khoản tiền vay còn lại này, theo đó bà cùng với con gái của mình là chị Nguyễn Thảo N xác lập một giấy vay tiền với nội dung “Hai mẹ con bà có vay của ông Trần Xuân V số tiền 100.000.000 đồng và hẹn đến ngày 30/4/2021 sẽ thanh toán đầy đủ. Nếu không thanh toán theo đúng cam kết thì bà phải chịu khoản tiền lãi là 3.000.000 đồng/tháng”.
Nhưng thực chất đây là số tiền mà cá nhân của bà nợ ông V từ trước chứ không liên quan gì đến con gái của bà là chị Nguyễn Thảo N.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì, bà nhất trí trả số tiền gốc là 100.000.000 đồng, không đồng ý với các khoản tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu vì mức yêu cầu như thế là quá cao so với quy định.
Với nội dung trên: Bản án sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 275; 288; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự. Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo đó: Buộc bà Trần Thị T trả nợ cho ông Trần Xuân V, số tiền cả gốc và lãi là: tính đến ngày 11 tháng 9 năm 2024 là 133.638.500 đồng (Trong đó gốc 100.000.000 đồng, tiền lãi 33.638.500 đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 23/9/2024, nguyên đơn ông Trần Xuân V gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 227.032.000đ (trong đó: Nợ gốc 100.000.000đ; lãi trong hạn 5.100.000đ; lãi quá hạn đối với tiền gốc 102.500.000đ; phạt lãi của lãi trong hạn và lãi quá hạn của 100.000.000đ tiền gốc là 19.432.000₫).
Ngày 25/9/2025 Tòa án đã xét xử sơ thẩm nhận được Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã kháng nghị đối với bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 11/9/2024, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại chủ thể có nghĩa vụ trả nợ và thời gian tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở đánh giá đầy đủ toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của nguyên đơn, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Tố tụng:
[1.1]. Thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, xác định quan hệ tranh chấp và đương sự trong vụ án của cấp sơ thẩm: Căn cứ vào giấy vay tiền mặt do các bị đơn ký xác nhận ngày 10/2/2021 thì bị đơn phải trả khoản tiền vay cho nguyên đơn hạn cuối là ngày 30/4/2021, quá hạn các bị đơn không trả nên ngày 11/01/2024 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, căn cứ vào Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 429 Bộ luật dân sự thì nguyên đơn là người có quyền khởi kiện, việc khởi kiện đang trong thời hiệu, các bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện T nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền và đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, các đương sự trong vụ án theo các quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Nguyên đơn là người có quyền kháng cáo thuộc đối tượng được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, nội dung và thể thức đơn kháng cáo hợp lệ, việc kháng cáo trong thời hạn luật định. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.3]. Sự vắng mặt các bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm: Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng về việc mở phiên tòa phúc thẩm cho các đương sự tuy nhiên các bị đơn đề nghị vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, giữ nguyên nội dung, phạm vi kháng cáo. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng tiếp tục xét xử vụ án theo trình tự thủ tục chung.
[2]. Nội dung vụ án:
[2.1]. Đối với khoản tiền nợ gốc: Ngày 10/2/2021 bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N đã xác lập giấy vay tiền mặt đối với nguyên đơn, số tiền vay là 100.000.000đ, thời hạn vay từ 10/2/2021 đến 30/4/2021, bà T và chị N ký dưới mục người vay, quá thời hạn vay bà T và chị N không trả được cho nguyên đơn Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện về khoản nợ gốc của nguyên đơn là có căn cứ. Tại thời điểm xác lập giấy vay tiền mặt ngày 10/2/2021 bà T và chị N là những người đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần, tự nguyện xác lập giấy vay tiền đối với nguyên đơn nên phát sinh quyền và nghĩa vụ do đó cấp sơ thẩm chỉ buộc mỗi mình bà T thực hiện nghĩa vụ là thiếu sót. Tuy nhiên không xác định được kỷ phần thụ hưởng trong tổng số tiền vay của từng bị đơn nên cần phải buộc các bị đơn là bà T và chị N phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho nguyên đơn.
[2.2]. Khoản lãi trong thời hạn vay: Căn cứ vào giấy vay tiền mặt ngày 16/01/2020, thì giữa nguyên đơn và bà T không thỏa thuận lãi suất. Đến ngày 10/02/2021 nguyên đơn, bà T và chị N lập lại giấy vay có các nội dung chính như sau: Tổng số tiền vay 100.000.000đ, thời hạn vay từ 10/2/2021 đến 30/4/2021. Trong thời hạn vay không phải trả lãi; quá hạn thì phải trả lãi từ ngày vay tiền 10/2/2021 đến ngày thanh toán hết nợ. Riêng tiền lãi khi quá hạn trả 30 ngày trả một lần. Gốc và lãi trả hàng tháng. Số tiền lãi 3 triệu đồng/tháng. Như vậy, tại giấy vay tiền ngày 10/2/2021 xác định trong thời hạn vay bà T, chị N không phải trả lãi, tuy ông V không ký vào giấy vay tiền mặt nhưng giấy này do ông V quản lý trong thời gian vay ông ấy không có ý kiến gì, nên việc ông yêu cầu bà T, chị N trả lãi suất trong hạn vay từ ngày 10/2/2021 đến 30/4/2021 là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3]. Khoản lãi quá hạn:
Nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ ngày 30/4/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/9/2024. Xét thấy:
Hạn vay của các bị đơn đối với nguyên đơn là đến ngày 30/4/2021 nhưng đến hạn các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ nên nguyên đơn yêu cầu các bị đơn phải trả lãi quá hạn là có căn cứ tuy nhiên ngày phát sinh nghĩa vụ trả lãi quá hạn là kể từ ngày 01/5/2021. Lãi suất quá hạn các đương sự thỏa thuận tại giấy vay tiền mặt là là 3.000.000đ/tháng phát sinh trên khoản nợ gốc 100.000.000₫ tương ứng 36%/năm là vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, tuy nhiên mức lãi suất quá hạn theo yêu cầu của nguyên đơn tại đơn khởi kiện là 20%/năm, dù bị đơn không chấp nhận, nhưng Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng lãi suất 10%/năm là không có cơ sở. Căn cứ Điều 375; khoản 1, 2 Điều 468 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu lãi suất quá hạn của nguyên đơn là 20%/năm, nhưng cần xác định lại thời gian tính lãi như nhận định trên đây và nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An theo đó tiền lãi quá hạn mà các bị đơn phải trả cho nguyên đơn (từ ngày 01/5/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/9/2024) là: 100.000.000₫ x 20%/năm x 03 năm 03 tháng 09 ngày = 65.511.000đ.
[2.4]. Đối với nội dung khởi kiện cũng là nội dung kháng cáo về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn khoản phạt lãi phát sinh trên lãi quá hạn, thấy rằng: Giấy vay tiền ngày 10/2/2021 các đương sự không thỏa thuận nội dung phạt lãi nếu như bên vay không trả nợ đúng hạn và pháp luật không quy định nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn như bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[2.5]. Yêu cầu đưa tiền lương của bà T và chị N làm tài sản đảm bảo thế chấp của nguyên đơn: Giấy vay tiền đề ngày 16/01/2020 thể hiện nội dung chính là bà T công tác tại Trường P, có số tài khoản 3615205049904 nay thế chấp cho ông Trần Xuân Vvới số tiền 118.000.000đ, mặt sau giấy vay tiền này có xác nhận của hiệu trưởng với nội dung chính là: Cô Trần Thị T là giáo viên của nhà trường có số tài khoản A. Đây là việc người sử dụng lao động xác nhận người lao động làm việc trong cơ quan do mình quản lý có số tài khoản nêu trên chứ không phải là cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký thế chấp. Hơn nữa Giấy vay tiền đề ngày 16/01/2020 đã được các đương sự xác lập lại Giấy vay tiền ngày 10/2/2021 để thay thế không có nội dung thỏa thuận đưa tài sản hoặc quyền về tài sản nhằm đảm bảo cho khoản vay nên không cơ cơ sở để chấp nhận. Bản án sơ thẩm có nhận định nhưng không tuyên trong phần quyết định là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.
Từ những phân tích, đánh giá trên đây Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa; căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; sửa án sơ thẩm và sửa cách tuyên.
[3]. Án phí: Áp dụng Điều 147; 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Bị đơn phải chịu nghĩa vụ án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; sửa án sơ thẩm và sửa cách tuyên.
Áp dụng: Các Điều 275; 288; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự; Điều 147; 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ Điều 12, khoản 1 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14:
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Xuân V.
- Buộc các bị đơn bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Trần Xuân V số tiền gốc là: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/5/2021 đến ngày 11/9/2024 là: 65.511.000₫ (Sáu lăm triệu, năm trăm mười một nghìn đồng). Tổng là: 165.511.000đ (Một trăm sáu lăm triệu, năm trăm mười một nghìn đồng).
- Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn khoản phạt lãi phát sinh trên lãi quá hạn và đưa tiền lương của bà Trần Thị T và chị Nguyễn Thảo N làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của bị đơn đối với nguyên đơn.
- Án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí đân sự sơ thẩm và phúc thẩm. Buộc các bị đơn bà Trần Thị T, chị Nguyễn Thảo N liên đới phải chịu nghĩa vụ án phí dân sự sơ thẩm là: 8.275.000đ (Tám triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày 12/9/2024 cho đến khi thi hành xong số tiền còn phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357; 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Lam |
Bản án số 33/2025/DS - PT ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp kiện đòi nợ.
- Số bản án: 33/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi nợ.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi nợ
