Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚC THỌ, TP. HÀ NỘI

 

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 26-04-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc và bà Nguyễn Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Tiến Phúc, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Phúc Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 26/04/2024, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Thiện T

(tên khác: X), sinh năm 1989 tại xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Thôn A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thiện T1 và bà Đoàn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 104/2020/HSST ngày 10/12/2020, TAND huyện Đan Phượng xử 18 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022); tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 10/2010/HSST ngày 10/3/2010, TAND huyện Thạch Thất xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, bản án số 89/2014/HSST ngày 15/8/2014, TAND thị xã Sơn Tây xử 54 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay. “có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Thiện T2, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. “có mặt”
  2. Ông Đỗ Thiện T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thiện T là người nghiện chất ma túy đang điều trị thay thế cai nghiện bằng hình thức uống Methadone tại Trung tâm y tế T4, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Khoảng 9h00' ngày 10/01/2024, T đi xe máy đến Trung tâm y tế T4. Sau khi uống thuốc Methadone, T đi ra khu vực vắng người gần cổng Trung tâm y tế T4, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 500.000đồng được 01 (một) gói ma túy. Về nhà, T lấy dao lam chia gói ma túy làm 03 phần, lấy một phần sử dụng luôn bằng hình thức hít, còn lại 02 phần, T lấy giấy gói lại thành 02 gói đều bọc ngoài bằng ni long trong suốt, mục đích để sử dụng dần. Thuyên cất 02 gói ma túy vào túi xách (dạng túi nhỏ đeo chéo trên người). Chiếc túi này T luôn đeo trên người.

Đến khoảng 16h00' cùng ngày, T muốn sử dụng ma túy nhưng có nhiều người đến chơi, thăm bà của T bị ốm (T trông bà) nên T đi xe máy BKS 29X5- 1822 ra khu vực cánh đồng gần cây xăng T5- xã H để sử dụng. Khi đi đến gần cây xăng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Tài sản và vật chứng thu giữ, gồm:

  • 02 (hai) gói giấy bên ngoài quấn nilong trong suốt, kích thước khoảng (1x1x0,5) cm, cùng đều chứa chất bột màu trắng (T khai nhận là ma túy Heroine).
  • 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Super Dream màu trắng bạc, đã qua sử dụng, BKS: 29X5- 1822.
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh đã qua sử dụng.
  • 01 (một) túi xách có quai đeo màu đen, kích thước khoảng 20cm x 15cm x 05 cm đã qua sử dụng.
  • Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành.

Xét nghiệm tìm chất ma túy có trong nước tiểu của Đỗ Thiện T, kết quả: Dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Tại Bản kết luận giám định số 662/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K, Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy (bên ngoài bọc nilông) đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,232 gam./."

Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 08/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo Đỗ Thiện Thuyên về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Thiện T 15- 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không áp dụng hình phạt bổ sung; đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai: Đỗ Thiện T là người nghiện chất ma túy. Ngày 10/01/2024, T đi đến Trung tâm y tế T4 uống thuốc Methadone, sau đó đi ra khu vực vắng người gần cổng Trung tâm y tế T4, gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 500.000đồng được 01 (một) gói ma túy. Về nhà, T chia gói ma túy làm 03 phần, lấy một phần sử dụng luôn bằng hình thức hít, còn lại 02 phần, lấy giấy gói lại thành 02 gói đều bọc ngoài bằng ni long trong suốt để sử dụng dần. Thuyên cất 02 gói ma túy vào túi xách luôn đeo trên người. Đến khoảng 16h00' cùng ngày, T muốn sử dụng ma túy nên đi xe máy ra khu vực cánh đồng gần cây xăng T5- xã H để sử dụng. Khi đi đến gần cây xăng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với biên bản phạm tội quả tang và phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 10/01/2024, Đỗ Thiện T có hành vi cất giữ 02 (hai) gói ma túy loại loại Heroine, khối lượng 0,232 gam, mục đích để sử dụng cá nhân, tại khu vực thôn H, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội thì bị bắt quả tang.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự; Nghị định của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và các văn bản hướng dẫn, hành vi đó của Đỗ Thiện T đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh trên là có căn cứ.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Ma túy là nguyên nhân làm cho người sử dụng suy kiệt về thể lực, suy giảm về trí lực, suy đồi về đạo đức, là nguyên nhân gieo rắc nhiều căn bệnh hiểm nghèo cho con người, đặc biệt là căn bệnh AIDS mà toàn xã hội đang phải phòng chống, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bản án số 104/2020/HSST ngày 10/12/2020, TAND huyện Đan Phượng xử phạt Đỗ Thiện T 18 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc (chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022) chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.

[2]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt hình phạt bổ sung.

[3]. Về xử lý vật chứng của vụ án: - Đối với 01 phong bì thư niêm phong, dán kín của phòng P, bên trong chứa chất ma túy; 01 (một) túi xách có quai đeo màu đen, kích thước khoảng 20cm x 15cm x 05 cm đã qua sử dụng để giấu ma túy thu của T không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy;

- Đối với 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của T, là tài sản của T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho T.

- Đối với số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) thu giữ của Đỗ Thiện T là số tiền do người thân đến thăm hỏi bà nội của T (Trần Thị N) bị ốm. Thuyên trông bà ốm nên giữ hộ bà. Nay bà Trần Thị N đã chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N đề nghị trả lại số tiền 4.000.000 đồng cho ông Đỗ Thiện T1 (con cả của bà N) quản lý. Xét thấy, số tiền này không liên quan đến vụ án, sự thỏa thuận của các đồng thừa kế của bà Trần Thị N là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

- Đối với 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Super Dream màu trắng bạc, đã qua sử dụng, BKS: 29X5- 1822 thu giữ của T, kết quả điều tra xác định là tài sản của ông Đỗ Thiện T2 (là chú ruột của T) cho T mượn sử dụng vào việc chăm sóc bà nội. Ông T2 không biết T sử dụng xe máy để đi mua và sử dụng ma túy, nên trả lại cho ông T2.

[4]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5]. Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo về mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về nguồn gốc số ma tuý: T khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực trạm bơm thuộc xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh nhưng không xác định được người bán ma túy cho T, nên không đề cập xử lý.

[7]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự
  2. Xử phạt: Đỗ Thiện T 16 (mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/01/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
    • Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09- Công an thành phố H, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị T3, đ/c Ngô Quang M-cán bộ Công an xã H và của Đỗ Thiện T; 01 (một) túi xách có quai đeo màu đen, kích thước khoảng 20x15x05 cm đã qua sử dụng.
    • Trả lại Đỗ Thiện T 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh đã qua sử dụng.
    • Trả lại ông Đỗ Thiện T2 01 (một) xe máy kiểu dáng Honda Super Dream màu trắng bạc, đã cũ, gắn BKS: 29X5- 1822.

      (Theo biên bản giao nhận ngày 12/04/2024)

      Trả lại ông Đỗ Thiện T1 số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng). (theo Giấy nộp tiền ngày 09/04/2024).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án
  5. Bị cáo Đỗ Thiện T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự
  7. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Phúc Thọ;
  • - Công an huyện Phúc Thọ;
  • - Sở tư pháp TP. Hà Nội;
  • - Bị cáo; bị hại; người có QL,NV liên quan;
  • - Chi cục THADS huyện Phúc Thọ;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Đức Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thiên T về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger