Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 17 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Phú và ông Trần Thanh Dương
  • Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Lương Văn K, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1987, tại tỉnh Nghệ An

Nơi đăng ký thường trú: Bản H, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Thổ (Đan Lai); giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T và bà La Thị S; có vợ là Hà Thị G (đã ly hôn) và 02 con (sinh đôi năm 2011); Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 25/11/2022, bị Chủ tịch UBND phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt, tạm giữ sau đó chuyển tạm giam tại Nhà Tạm giữ C án thị xã B kể từ ngày 14/5/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo Lệnh trích xuất.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Diệu L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Ông Nguyễn Thế H, sinh năm: 1966; nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1981; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố B, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 14/5/2024, Lương Văn K đang ở tại phòng trọ của mình ở tổ dân phố C, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì nảy sinh ý định đi mua ma tuý về để sử dụng. K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 73HA-6537 đi đến đoạn đường nội phường thuộc tổ dân phố T, phường Q, thị xã B thì thấy một nam thanh niên đứng ở bên đường, K tới dò hỏi và mua được từ nam thanh niên này 08 viên ma tuý tổng hợp dạng hồng phiến được đựng trong một gói giấy với giá 500.000 đồng. K đem giấu gói ma tuý vừa mua được vào lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi K đi đến đoạn đường thuộc Khu phố A, phường B, thị xã B thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Tại Bản kết luận giám định số 529 ngày 17/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: “08 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có in chữ “WY” (mẫu ký hiệu A) thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lương Văn K là chất ma tuý, loại Methamphetamin, khối lượng 0,767g. Methamphetamin nằm trong danh mục các chất ma tuý, số thứ tự 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ: 08 viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt mỗi viên có in chữ “WY”, theo kết quả giám định có trọng lượng là 0,767g, sau giám định còn lại 0,571g chất ma tuý, loại Methamphetamin đã được niêm phong bằng 01 phong bì thư gián kín của Phòng K1 Công an tỉnh Q, phía ngoài ghi nội dung: “529/KL-KTHS”; 01 xe mô tô biển kiểm soát 73HA-6537 nhãn hiệu Honda, loại Super Cup50, số máy C50E9810888, số khung không có, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định mô tô trên thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thế H và đã được ông H bán phế liệu cách đây khoảng gần 4 năm. Sau đó, xe mô tô này được anh Nguyễn Đình Q mua lại tại cơ sở thu mua phế liệu về tu sửa lại, biển kiểm soát 73HA-6537 cũng được anh Q nhặt được tại sơ sở thu mua phế liệu và gắn vào xe mô tô nói trên để sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSBĐ, ngày 04/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Lương Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bị cáo Lương Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn K từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/5/2024; về xử lý vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư dán kín ghi nội dung “529/KL-KTHS” của Phòng K1 Công an tỉnh Q bên trong chứa 0,571g chất ma tuý Methamphetamin kèm toàn bộ vỏ bao gói, căn cứ điểm a khoản 4, điểm c khoản 5 Điều 30 Nghị định 100 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ, đường sắt: chuyển 01 xe một tô biển kiểm soát 73HA-6537 nhãn hiệu Honda, loại Super Cup50, số máy C50E9810888, số khung không có, không có giấy tờ sở hữu, đã qua sử dụng đến Công an thị xã B để xử lý theo thủ tục hành chính; về án phí: buộc bị cáo Lương Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
  • - Bị cáo Lương Văn K nhất trí với tội danh và khung hình phạt như bản Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không có ý kiến tranh luận;
  • - Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn K trình bày ý kiến: nhất trí với nội dung cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Đồng thời đề nhị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Lương Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, K mới phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; hành vi phạm tội của bị cáo một phần xuất phát từ việc bị cáo lớn lên ở vùng khó khăn, nhận thức còn hạn chế; bị cáo có hai con nhỏ sinh đôi còn cần bị cáo thường xuyên chu cấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên là 12 tháng tù.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày là bị cáo đã nhận thức được sự sai trái trong hành vi của mình, bị cáo hứa sẽ từ bỏ ma tuý và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thế H và anh Nguyễn Đình Q. Tuy nhiên bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, Kiểm sát viên đều không có ý kiến gì về việc vắng mặt của những người này và yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục phiên toà. Xét thấy sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không làm cản trở đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

  1. Về hành vi phạm tội:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều khai nhận: vào khoảng 19 giờ 50 phút ngày 14/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên bị cáo đã đi mua và cất giữ 08 viên ma tuý hồng phiến trong người, khi đi đến đoạn đường thuộc Khu phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình thì bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án và được tranh tụng tại phiên tòa; đúng như nội dung của bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. 08 viên nén hình tròn bị cáo tàng trữ theo kết luận giám định được xác định là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,767g. Methamphetamin nằm trong danh mục các chất ma tuý, số thứ tự 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lương Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn là có căn cứ, đúng pháp luật.

  1. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội; không những đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát các chất kích thích, gây nghiện mà việc bị cáo sử dụng các loại ma túy gây tổn thương não bộ, suy giảm trí nhớ, hưng phấn thần kinh nhất thời dẫn đến trạng thái kích động và có hành vi bạo lực nên không chỉ mang lại tác hại cho sức khỏe của bị cáo mà còn có nguy cơ có thể khiến bị cáo gây ra những hành vi phạm tội khác nguy hiểm cho những người xung quanh, gây hoang mang, lo sợ cho người dân trên địa bàn. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nhận thức và năng lực hành vi đầy đủ, đồng thời năm 2022 bị cáo cũng đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên bị cáo biết rõ việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng ma tuý và hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Điều đó cho thấy bị cáo rất có ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để xử phạt nghiêm nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
  2. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đã bị Chủ tịch UBND phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là 1.500.000 đồng vào ngày 25/11/2022 nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

  1. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng, Lương Văn K có nhân thân xấu, cố ý thực hiện hành vi phạm tội ở mức độ nghiêm trọng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần thiết phải áp dụng quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa cho xã hội.

Các đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa đối với bị cáo Lương Văn K là phù hợp, được xem xét chấp nhận.

  1. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ, chuyển giao các vật chứng liên quan đúng quy định, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm về các quyết định này. Các vật chứng hiện đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn quản lý, bảo quản.

Đối với 0,571g Methamphetamine còn lại sau khi giám định được đựng trong phong bì thư niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh Q; xét thấy xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy;

Đối với xe mô tô gắn biển kiểm soát 73HA – 6537, được xác định trước đây thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thế H, sau đó được ông H bán phế liệu và được anh Q mua lại từ cơ sở thu mua phế liệu, biển kiểm soát 73HA – 6537 cũng được anh Q xin từ bãi phế liệu và gắn vào xe mô tô trên để sử dụng nên hiện nay xác định xe mô tô và biển kiểm soát 73HA – 6537 đều thuộc quyền quản lý của anh Q. Khi K sử dụng xe máy này để đi mua ma tuý thì anh Q không biết nên xe mô tô trên không liên quan trong vụ án này. Tuy nhiên, quá trình mua bán, sử dụng xe mô tô và biển kiểm soát 73HA – 6537 nói trên, xe không có giấy phép đăng ký đúng quy định, đã bị đục sửa số khung, lắp biển số không đúng với số đăng ký nên đã vi phạm quy định tại các Điều 17, 30 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ và đường sắt; căn cứ Điều 74, 76 Nghị định 100/2019/NĐ-CP việc xử lý vi phạm thuộc thẩm quyền của Công an thị xã B nên cần chuyển xe mô tô gắn biển kiểm soát 73HA – 6537 đến Công an thị xã B xử lý theo quy định.

  1. Liên quan trong vụ án có đối tượng đã bán ma tuý cho Lương Văn K nhưng không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý theo quy định.
  2. Về án phí: Bị cáo Lương Văn K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; các khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.

Căn cứ các Điều 17, 30, 74 và 76 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đường bộ và đường sắt,

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lương Văn K 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 14/5/2024).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lương Văn K 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo công tác thi hành án.

  1. Về vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư gián kín, trên ghi nội dung “529/KL-KTHS” của Phòng K1 Công an tỉnh Q có chứa 0,571g chất ma tuý, loại Methamphetamin sau giám định;

Chuyển giao xe mô tô gắn biển kiểm soát 73HA-6537 nhãn hiệu Honda, loại Super Cup50, số máy C50E9810888, đã qua sử dụng đến Công an thị xã B xem xét xử lý theo quy định.

(Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn ngày 05/7/2024).

  1. Về án phí: Bị cáo Lương Văn K phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt tại phiên toà) hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án (đối với người vắng mặt tại phiên toà).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - CA thị xã Ba Đồn;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo hình phạt tù, xem xét về vật chứng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger