Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lê Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Bá Tấn - ông Nguyễn Đình Thanh

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Bá Kiên - Chức vụ: Thư ký tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: ông Hồ Văn Nam - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  • - Họ và tên: Nguyễn Thị D (tên gọi khác: Không: Giới tính: Nữ); sinh ngày 05 tháng 02 năm 1989, tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nơi cư trú: xóm Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ học vấn: 12/12: Đảng, đoàn thể: Không: Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam: Con ông Nguyễn Như T và bà Nguyễn Thị H: Chồng Phan Văn T1 và 02 con: Tiền án, tiền sự: Không: Tạm giữ, tạm giam: Không: Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  • - Họ và tên: Nguyễn Thị T2 (tên gọi khác: Không: Giới tính: Nữ); sinh ngày 18 tháng 7 năm 1993, tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nơi cư trú: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ học vấn 9/12: Đảng, đoàn thể: Không: Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam: Con ông Nguyễn Văn Q và bà Đặng Thị T3: Chồng Phan Thành L và 03 con: Tiền án, tiền sự: Không: Tạm giữ, tạm giam: Không: Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  • - Họ và tên: Phan Thị Như Q1 (tên gọi khác: Không: Giới tính: Nữ); sinh ngày 18 tháng 11 năm 1996, tại xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nơi cư trú: xóm P, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ học vấn 12/12: Đảng, đoàn thể: Không: Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không: Quốc tịch: Việt Nam: Con ông Phan Quốc O và bà Triệu Thị Q2: Chồng Đặng Văn M và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không: Tạm giữ, tạm giam: Không: Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Đặng Thị M1, sinh năm 1974; trú tại: xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Có mặt);
  • + Ông Nguyễn Như T, sinh năm 1961; trú tại: xóm P, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Thị Như Q1 và Nguyễn Thị D có mối quan hệ là anh em với nhau (Q1 và chồng của D là con cô con cậu). Qua quá trình nói chuyện, D nói với Q1 là D biết chỗ lấy pháo để bán. Nguyễn Thị T2 và Q1 cũng có mối quan hệ anh em là con cô con cậu, khi gặp nhau và ngồi nói chuyện Q1 nghe T2 nói khi nào có pháo thì bán lại cho T2. Nghe vậy thì Q1 nảy sinh ý định mua pháo của D với giá 1.000.000 đồng/bánh về để bán lại cho T2 với giá 1.050.000 đồng/bánh nhằm mục đích kiếm lời.

Khoảng 18 giờ ngày 01/01/2024, T2 đến quán cắt tóc Mạnh Q3 (quán của Q3) tại xóm P, xã H thì Q3 hỏi T2 “có lấy pháo không, mai có”; T2 trả lời “mai lấy 15 bánh”. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 01/01/2024 D đến quán M3, gặp Q3 và nói “mai có thì chị đưa xuống cho”, Q3 trả lời, “rửa lấy cho em 15 bánh”. Sau đó D lên mạng xã hội Facebook và dùng tài khoản của mình với tên “Dung N” rồi liên hệ tài khoản "Binh Le” (không rõ nhân thân lai lịch) đặt mua 17 bánh pháo, loại 36 quả với giá 850.000 đồng/bánh.

Đến 6 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, tài khoản trên gọi đến Messenger cho "Dung Nguyen" nói D ra Đài tưởng niệm liệt sỹ H để nhận hàng. Khi D ra đến nơi thì có một người đàn ông đưa cho D 01 thùng cattong chứa pháo, D thanh toán 14.450.000 đồng rồi mang về nhà. Khi về nhà D kiểm tra thấy 17 bánh pháo. D lấy 12 bánh bỏ vào 01 thùng cattong khác có sẵn trong nhà, dán băng kéo; bỏ 03 bánh pháo vào 01 thùng cattong khác cất trong phòng bếp; còn 02 bánh Dung gói nilong cất ở mép cổng nhà. Đến khoảng 09 giờ ngày 02/01/2024, D gọi đến M2 “Quynh Nhu P” của Q3 và nói: “ Có hàng rồi, khoảng trưa chị đưa xuống cho”. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, T2 đến quán của Q3 hỏi khi nào có pháo thì Q3 nói T2 chuyển tiền. Tại đây, 2 người thống nhất Q3 sẽ bán cho T2 15 bánh pháo với giá 1.050.000 đồng/bánh. Tuy nhiên, do không đủ tiền nên T2 chuyển trước 12.000.000 đồng đến tài khoản V 0351000869347 của chị Q3 và dặn Q3 khi nào có hàng thì gọi cho T2. Đến 10 giờ cùng ngày, do sợ chở nhiều sẽ bị phát hiện nên D điều khiển xe mô to HonDa Weve S110 màu đen BKS 37B1 - 252.02 là xe của Nguyễn Như T, sinh năm 1961 trú tại xóm P, xã V, huyện Y mang đến quán cắt tóc của Q3 đưa trước cho Q3 01 thùng cattong màu nâu chứa 12 bánh pháo, đặt tại vị trí mép cửa quán bên trái rồi ra về. Q3 biết đó là pháo và do đang bận cắt tóc nên cũng không mở ra xem. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Q3 đến nhà T báo là có pháo đến để lấy pháo vì đã có hàng. Nghe vậy T điều khiển xe mô tô Honda vison màu đỏ BKS 37P1 - 158.86 (là xe của Đặng Thị M1, sinh năm 1974, trú cùng xóm với T) đi đến quán cắt tóc của Q3. Khi thấy thùng cattong T biết là có chứa pháo nên T bỏ thùng cattong vào vị trí để chân phải trước xe mô tô rồi điều khiển xe về quán sỉ lẻ dừa của mình ở xóm T, xã H mục đích nếu ai hỏi mua thì sẽ bán lại kiếm lời. Khi về quán, T mở ra thấy có 12 bánh pháo. Đến khoảng 12 giờ 50 phút ngày 02/01/2024 Q3 sử dụng sốp tài khoản V 0351000869347 của mình chuyển đến số tài khoản L1 03654173001 của D số tiền 14.300.000 đồng. Sau đó, Q3 đi đến nhà D đưa cho D 700.000 đồng còn lại. Khoảng 14 giờ 38 phút cùng ngày, T sử dụng số thuê bao 086577731 gọi điện đến số thuê bao 0972668074 của Lê Thị S sinh năm 1978, trú tại xóm H, xã V, huyện Y, Nghệ An để bán pháo cho S với giá 1.350.000 đồng/bánh, thì S đồng ý mua 13 bánh. Sau đó T để số pháo lên vị trí để chân phía trước chiếc xe mô tô Hoda Vission màu đỏ BKS 37P1 - 158.86 và điều khiển xe đến xã V để giao trước 12 bánh cho S, số còn lại sau khi S trả đủ tiền sẽ trao đổi thống nhất sau. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang đi đến đoạn đường thuộc địa phận xóm H, xã V thì bị Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại vị trí để chân chiếc xe mô tô của T đang điều khiển 1 thùng cattong màu nâu bên trong có 12 khối hình hộp có đặc điểm giống nhau, mỗi khối có kích thước (14x14x10cm) được bọc bên ngoài bằng giấy có in chữ nước ngoài và hình ảnh pháo hoa phát nổ cháy sáng, ký hiệu A8412A và các tang vật liên quan.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/01/2024 D cầm 02 bánh pháo gói bên ngoài bằng lớp nilông cất tại vị trí bên trong mép cổng nhà đưa đến quan cắt tóc của Q3 và đặt tại mép cửa bên trái phía ngoài của quán. Lúc này D gặp Q3 và nói “sáng đưa có 12 bánh, nãy đi vội nên cầm được thêm 2 bánh, còn một bánh nữa mai đưa sau", sau đó D ra về.

Đến khoảng 19 giờ 10 phút ngày 02/01/2024, Q3 và D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp gồm: Q3 nộp 2 khối pháo có khối lượng 2,4 kg; D nộp 03 khối pháo có khối lượng 3,6 kg.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định. Kết quả như sau:

  • +/12 khối hình hộp có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (14x14x10cm), bên ngoài được bọc bởi lớp giấy in chữ nước ngoài và hình ảnh pháo hoa cháy sáng, ký hiệu A8412A, ở vật chứng số 01 có khối lượng 14,5 kg. Cơ quan điều tra đã lấy 01 hộp gửi đi giám định.
  • +/02 khối hình hộp có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (14x14x10cm), bên ngoài được bọc bởi lớp giấy in chữ nước ngoài và hình ảnh pháo hoa cháy sáng, ký hiệu A8412A, ở vật chứng số 02 có khối lượng 2,4 kg. Cơ quan điều tra đã lấy 01 hộp gửi đi giám định.
  • +/03 khối hình hộp có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (14x14x10cm), bên ngoài được bọc bởi lớp giấy in chữ nước ngoài và hình ảnh pháo hoa cháy sáng, ký hiệu A8412A, ở vật chứng số 03 có khối lượng 3,6 kg. Cơ quan điều tra đã lấy 01 hộp gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 93/KL-PC09(Đ2 - CN) ngày 08/01/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2 và M3) gửi tới giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ.

Như vậy, khối lượng pháo của từng bị cáo được xác định như sau: Nguyễn Thị D: 20,5 kg; Nguyễn Thị T2 và Phan Thị Như Q1 mỗi bị cáo 18,1 kg.

Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKSYT ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Nghệ An truy tố Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T2, Phan Thị Như Q1 đều phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các quy định pháp luật xử lý đối với các bị cáo như sau:

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị D từ 21 - 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 42 - 48 tháng.

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T2 từ 18 - 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 36 - 42 tháng.

  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.:

    Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Như Q1 từ 15.- 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 30 - 36 tháng.

-Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Tuy nhiên, cần phải truy thu để sung quỹ nhà nước đối số tiền mà các bị cáo hưởng lợi do thu lợi bất chính từ việc mua bán pháo.

-Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo (phần còn lại) là 16,9 kg thu giữ của các bị cáo; đối 03 điện thoại di động thu giữ của 3 bị cáo có liên quan mua bán pháo nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối 02 xe mô tô thu giữ của bị cáo D và T2 xác định không phải xe của cá nhân các bị cáo (mượn của người khác, khi mượn chủ sở hữu không biết mục đích sử dụng của các bị cáo), vì vậy cần tuyên trả lại cho chủ sở hữu là bà M1 và ông T2.

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có tranh luận gì, mà chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ buộc tội: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, Thẩm phán thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, cả 3 bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của nhau và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Thị D mua 17 bánh pháo có khối lượng 20,5 kg của người có tài khoản mạng xã hội “Binh Le” đem về bán lại cho Phan Thị Như Q1 15 bánh pháo có khối lượng 18,1 kg, Q1 bán lại cho Nguyễn Thị T2 15 bánh pháo với mục đích T2 bán lại cho Lê Thị S nhằm thu lợi bất chính. Chứng minh được khối lượng pháo của từng bị cáo như đã nêu trên nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, truy tố cả 3 bị cáo đều về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý một số loại hàng cấm, Nhà nước cấm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trên thị trường. Vì thế, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng cải tạo và phòng ngừa chung.

[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T2, Phan Thị Như Q1 là đồng phạm của nhau tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự lẽ ra phải nhận thấy việc buôn bán hàng cấm (pháo nổ) là một trong những mặt hàng nhà nước cấm được nhà nước tuyên truyền phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng các bị cáo nếu phạm tội sẽ bị xử lý theo quy định nhưng vì hám lợi nên các bị cáo đã vi phạm nên cần xử lý nghiêm nhưng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Q1 thời điểm phạm tội bị cáo là phụ nữ có thai; mặt khác sau khi phạm tội bị cáo D, Q1 đã ra đầu thú tại cơ quan có thẩm quyền; gia đình bị cáo D có ông bà nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì và thờ cúng liệt sỹ là bác ruột bên nội của bị cáo, bản thân bị cáo tham gia nấu ăn và cung cấp nhu yếu phẩm cho các gia đình bị cách ly trong đại dịch Covid 19 có xác nhận của UBND xã H. Gia đình bị cáo Q1 có công với đất nước, ông nội được tặng huy chương kháng chiến hạng 3 vì có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bố chồng là thương binh hạng 3/4. Bị cáo T2 có mẹ đẻ tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, bố mẹ chồng bị cáo có công với đất nước được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì, huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n (đối với bị cáo Q1) điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này tại địa phương các bị cáo luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân; vì vậy không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và địa phương quản lý, giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.

Xét tính chất, mức độ hành vi cũng như các tình tiết giảm nhẹ, cần lên cho D mức án cao hơn T2, Q1 thấp hơn T2 mới là phù hợp.

-Đối người đàn ông bán 17 bánh pháo cho Nguyễn Thị D, quá trình điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa đủ cơ sở để xử lý trong vụ án, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

-Đối với Lê Thị S theo bị cáo T2 khai là người đặt mua của T2 12 bánh pháo vào ngày 02/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất với T2, tuy nhiên S không thừa nhận có việc đặt mua pháo của T2, ngoài lời khai của T2 không có chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với S.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nghĩ nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Tuy nhiên, quá trình mua bán pháo với nhau, phần lớn các bị cáo đã thanh toán tiền cho nhau, bởi vậy cần phải truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán pháo của các bị cáo để nộp quỹ nhà nước. Cụ thể: bị cáo D: 2.250.000 đồng (đã nộp đủ), bị cáo T2: 3.600.000 đồng; bị cáo Q1: 750.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.

Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo (phần còn lại) là 16,9 kg thu giữ của các bị cáo.

+/Đối với 03 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo là phương tiện liên lạc mua bán pháo nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+/Đối với 02 xe mô tô thu giữ của bị cáo D và T2 xác định không phải xe thuộc sở hữu của các bị cáo (mượn của người khác, khi mượn chủ sở hữu không biết mục đích sử dụng của các bị cáo), vì vậy cần tuyên trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.

[6] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo D và T2).
    • - Xử phạt: Nguyễn Thị D 22 (hai mươi hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 44 (bốn mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Buôn bán hàng cấm”.
    • - Xử phạt: Nguyễn Thị T2 20 (hai mươi) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách 40 (bốn mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Buôn bán hàng cấm”.
    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
    • - Xử phạt: P1 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Buôn bán hàng cấm"..

    Giao các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T2, Phan Thị Như Q1 cho UBND xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy 14 bánh pháo còn lại có khối lượng 16,9 kg cùng bao bì đã được niêm phong theo quy định.
    • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8 Z 5G màu trắng, số IMEI 1:868062060540276, số IMEI 2: 868062060540268, bên trong có gắn sim số 0865777731 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX màu xám, số IMEI 1: 357306092048719; số IMEI 2: 357306092517739, bên trong có gắn số sim 0987374017 đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MI MAX 3 màu đen số IMEI 1: 868490043153273; Số IMEI 2:868490043153281, bên trong có gn số sim 0914279828, đã qua sử dụng.
    • + Sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Nguyễn Thị D là: 2.250.000 đồng.
    • + Truy thu để sung quỹ nhà nước tại bị cáo Nguyễn Thị Thanh s tiền: 3.600.000 đồng, tại bị cáo Phan Thị Như Q1 số tiền: 750.000 đồng.
    • + Tuyên trả lại cho ông Nguyễn Như T, sinh năm 1961 trú tại xóm P, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S 110 màu đen BKS 37B1 - 252.02, xe đã qua sử dụng.
    • + Tuyên trả lại cho bà Đặng Thị M1, sinh năm 1974 trú tại xóm T, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An: 01 xe mô tô nhãn hiệu vision màu đỏ, BKS 37P1 - 158.86, xe đã qua sử dụng.

    (Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành bảo quản theo phiếu nhập kho số NK 0046, ngày 29/3/2024 và giấy nộp tiền (2.250.000 đồng) vào tài khoản ngày 29/3/2024 theo số tài khoản của Chi cục Thi hành án tại kho bạc nhà nước huyện Y, tỉnh Nghệ An).

    (Số pháo nêu trên hiện đang tạm gửi tại kho tang vật của Công an huyện Y. Công an huyện Y có trách nhiệm chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành khi án có hiệu lực pháp luật để tiến hành thủ tục tiêu hủy theo quy định của pháp luật).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q4.

    Buộc Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị T2, Phan Thị Như Q1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản lên Toà án cấp phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Yên Thành
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - THA DS H. Yên Thành
  • - Các bị cáo;
  • - THA hình sự
  • - Lưu HS vụ án
  • - UBND xã Hoa Thành
  • - Sở tư pháp tỉnh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Dung Phạm tội buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger