|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 17-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hẩn;
Ông Lê Thanh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Tạ Hoàng Phi- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trực tuyến đến điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối bị cáo:
Đỗ Đức T, sinh ngày 30-6-2002, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H, sinh năm 1973 và bà Đặng Thị C, sinh năm 1975; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam ngày 06-10-2023 cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Bích C1, Luật sư của Công ty L; thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Việt H1, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ I, khu phố D, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 20 phút, ngày 06-10-2023, tại nhà của bị cáo Đỗ Đức T thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Công an huyện T tiến hành bắt quả tang T bán 01 bịch nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) với số tiền 500.000 đồng cho Phùng Minh C2, sinh năm 1995, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Kết quả xác minh ngày 10-11-2023 tại bút lục số 115: C2 không còn sinh sống tại địa phương, hiện không rõ địa chỉ) và Trần Hoàng M, sinh năm 1988, ngụ ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Kết quả xác minh ngày 08-11-2023 tại bút lục số 126: Mua không còn sinh sống tại địa phương, hiện không rõ địa chỉ). Quá trình bắt quả tang đã thu giữ: 01 bịch nylon hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng được thu trong túi quần phía trước bên phải của Phùng Minh C2 (ký hiệu M1); 01 bịch nylon bóp miệng bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 viên nén màu vàng được thu giữ trong gói thuốc lá hiệu Jet tại phòng ngủ của T (ký hiệu M2); 01 bịch nylon hàn kín và 02 bịch nylon bóp miệng bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng được thu trong nón kết màu đen tại phòng ngủ của T (ký hiệu M3); 02 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (ký hiệu M) và đồ vật có liên quan.
Kết quả điều tra đã xác định được:
- Để có tiền tiêu xài và có ma tuý sử dụng nên vào khoảng tháng 3 năm 2023, bị cáo sử dụng số điện thoại 0862.406.xxx liên lạc vào số điện thoại 0867.770.xxx của người tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực Tòa T thuộc thị xã H, tỉnh Tây Ninh; để mua chất ma tuý được 04 lần với số tiền từ 1.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng; lần gần nhất là ngày 04-10-2023 mua ma tuý của tên T1 số tiền 8.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo mang chất ma tuý về nhà chia ra nhiều bịch nhỏ để sử dụng và bán lại cho những người khác, cụ thể:
+ Vào ngày 01-10-2023 bán cho Trương Thị T2, sinh năm 1981, ngụ khu phố E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; 01 bịch chất ma tuý với số tiền 500.000 đồng; (Kết quả xác minh ngày 08-11-2023 tại bút lục số 137: Thắm không còn sinh sống tại địa phương, hiện không rõ địa chỉ).
+ Ngày 04-10-2023 bán cho Trần Hoàng M, Phùng Minh C2; 01 bịch chất ma tuý với số tiền 500.000 đồng tại nhà của T.
+ Ngày 06-10-2023, M và C2 hùn mỗi người 250.000 đồng để đi đến nhà T mua ma tuý về sử dụng; Mua dùng số điện thoại 0393.658.xxx liên lạc vào số điện thoại 0862.406.xxx của T hỏi mua ma tuý với số tiền 500.000 đồng thì T đồng ý bán. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, M và C2 đi đến nhà T thì T đưa cho C2 01 bịch ma tuý và nhận số tiền 500.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Bị cáo T còn khai nhận bán chất ma tuý nhiều lần cho những người tên N, T3, D.
- Ngoài ra, bị cáo T và Nguyễn Hoàng Anh V, sinh ngày 29-9-2005, ngụ ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh (Kết quả xác minh ngày 05-02-2024 tại bút lục số 148: Vỹ không còn sinh sống tại địa phương, hiện không rõ địa chỉ); có quen biết với nhau; V thường đến nhà của T và phụ T vệ sinh nhà. Vào ngày 05-10-2023, sau khi phụ bị cáo dọn nhà xong, T kêu V vào phòng ngủ của T; sau đó bị cáo lấy ma tuý ra đổ vào bộ dụng cụ và cùng V sử dụng ma tuý; kết quả xét nghiệm ngày 06-10-2023 của Trạm Y tế thị trấn T: T, V đều dương tính với chất ma tuý trong cơ thể.
Kết luận giám định số 1578/KL-KTHS ngày 11-10-2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
02 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (ký hiệu M) có tinh chất ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng không xác định được vì mẫu ở dạng vi vết.
Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon hàn kín là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0516 gam; đã sử dụng hết trong công tác giám định.
Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2.1) bên trong 01 bịch nylon bóp miệng là chất ma tuý, loại Ketamine, khối lượng 0,2609 gam.
Mẫu 01 viên nén màu trắng (kí hiệu M2.2) bên trong 01 bịch nylon bóp miệng là chất ma tuý; loại MDMA, khối lượng 0,4062 gam; đã sử dụng hết trong công tác giám định.
Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3) bên trong 02 bịch nylon bóp miệng và 01 bịch nylon hàn kín là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 39,4556 gam.
Kết luận giám định số 1673/KL-KTHS ngày 09-11-2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
Xe mô tô biển số 70H1- 353.26, loại Exciter, số máy 1S94018451, số khung RLCE1S9408Y018451: Số khung và số máy không bị đục sửa.
Xe mô tô biển số 70E1- 034.08, loại Sirius, màu đỏ đen; số máy 5C64482938, số khung RLCS5C640BY482937: Số khung và số máy không bị đục sửa.
Về vật chứng thu giữ:
01 (một) bì thư đã được niêm phong số 1578/gói 1; có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Thi Sĩ P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong có chứa 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (ký hiệu M) có chứa chất ma tuý loại Methamphetamine; khối lượng không xác định vì mẫu ở dạng vi vết.
01 (một) bì thư đã được niêm phong số 1578/gói 3; có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Thi Sĩ P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong có 01 (một) bịch nylon bóp miệng (ký hiệu M2.1) chứa chất ma tuý loại Ketamine; khối lượng sau giám định là 0,2163 gam.
01 (một) bì thư đã được niêm phong số 1578/gói 4; có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Thi Sĩ P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong có 02 (hai) bịch nylon bóp miệng và 01 (một) bịch nylon hàn kín (ký hiệu M3); chứa chất ma tuý loại Methamphetamine; khối lượng sau giám định là 37,9596 gam.
01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng.
03 (ba) cây kéo kim loại đã qua sử dụng.
01 (một) xe mô tô biển số 70H1- 353.26, loại Exciter, số máy 1S94018451, số khung RLCE1S9408Y018451; đã qua sử dụng; không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe.
01 (một) xe mô tô biển số 70E1- 034.08, loại Sirius, màu đỏ đen; số máy 5C64482938, số khung RLCS5C640BY482937; đã qua sử dụng; không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe.
01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 355838086397589, bên trong có gắn sim số 0862.406.446; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy.
01 (một) gói niêm phong có chữ ký của Phạm Hữu C3, Lâm Bảo V1, Nguyễn Thế H2 và dấu tròn màu đỏ của Ngân hàng N2- Chi nhánh huyện T, tỉnh Tây Ninh; bên trong có tiền Việt Nam 1.000.000 (một triệu) đồng.
Về kê biên tài sản: Bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
Cáo trạng số 05/CT-VKSTN-P1 ngày 26-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố: Bị cáo Đỗ Đức T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Đức T với mức án từ 15 (mười lăm) năm tù đến 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đỗ Đức T từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của bị cáo T theo quy định của pháp luật.
Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày:
Thống nhất về các tội danh và điều luật áp dụng như bản luận tội của kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo T. Đề nghị: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo khung hình phạt thấp hơn khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên đối đáp:
Điều 54 Bộ luật Hình sự là điều khoản mở nên việc xem xét áp dụng thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Việc người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là không có căn cứ.
Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo rất ăn năn, hối hận và chịu trách nhiệm đối với tội bị cáo gây ra; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06-10-2023; phù hợp lời khai của những đối tượng đã mua ma tuý của bị cáo, của đối tượng cùng sử dụng ma tuý với bị cáo; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả giám định chất ma tuý và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Từ tháng 3 năm 2023 đến ngày 06-10-2023; bị cáo T có hành vi mua ma tuý từ người khác mang về phân lẻ bán lại cho người sử dụng. Bị cáo đã bán trái phép chất ma tuý cho nhiều người; trong đó, xác định được bị cáo bán cho Trương Thị T2 01 lần được 01 bịch chất ma tuý với số tiền 500.000 đồng vào ngày 01-10-2023; bán cho Trần Hoàng M và Phùng Minh C2 02 lần vào ngày 04-10-2023, ngày 06-10-2023, mỗi lần 01 bịch chất ma tuý với số tiền 500.000 đồng. Quá trình bắt quả tang đã thu giữ chất ma tuý của T vào ngày 06-10-2023, gồm: Chất ma tuý loại Methamphetamin khối lượng 39,5072 gam; chất ma tuý loại MDMA khối lượng 0,4062; chất ma tuý loại Ketamine khối lượng 0,2609 gam; tổng khối lượng các chất ma tuý là 40,1743 gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng “Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.”; quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[2.2] Ngày 05-10-2023 tại nhà của bị cáo T thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; bị cáo T cung cấp chất ma tuý, dụng cụ để đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể của người khác, đó là Nguyễn Hoàng Anh V, sinh ngày 29-9-2005, ngụ ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hành vi này của bị cáo T đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Hội đồng xét xử xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
[4.1] Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” trước đó; bị cáo có bà nội là thương binh, hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học, có ông cố nội là liệt sĩ; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là không có căn cứ nên không chấp nhận.
[4.2] Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4.3] Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội; là nguyên nhân làm gia tăng người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác; bị cáo ý thức được điều này nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm và phạm nhiều tội; khối lượng ma tuý bị bắt rất lớn nếu không kịp thời phát hiện, xử lý thì hậu quả đối với xã hội rất nặng nề; nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của người bào chữa. Xét thấy, phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung; cũng như, đảm bảo yêu cầu của công tác phòng chống ma tuý.
[5] Hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích vụ lợi nên cần phạt bổ sung một số tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.
[6] Biện pháp tư pháp:
[6.1] Những vật chứng là chất ma túy và các vật chứng liên quan trực tiếp đến việc mua bán, sử dụng ma tuý phải tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6.2] Số tiền mua bán ma tuý mà có, điện thoại di động là phương tiện sử dụng để trao đổi thực hiện hành vi phạm tội; phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6.3] Xe mô tô của bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; do không liên quan đến hành vi phạm tội phải trả lại cho bị cáo, cho chủ sở hữu.
[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Trương Thị T2, Trần Hoàng M, Phùng Minh C2 đã bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính; mỗi người số tiền 1.500.000 đồng; riêng hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Hoàng Anh V đã chuyển đến Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh, để xử lý theo quy định; là có căn cứ.
[8] Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Tây Ninh chưa xác định được họ tên và địa chỉ của đối tượng tên T1 sử dụng số điện thoại 0867.770.xxx. Kết quả xác minh và tra cứu thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0867.770.xxx là Trần Văn C4, sinh năm 1979, ngụ ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Long An; đã bỏ địa phương, không rõ địa chỉ; khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
[9] Đối với những người tên Năm, T3, D mà T khai có mua ma tuý của T; chưa xác định được họ tên và địa chỉ; khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
[10] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 251; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 16 (mười sáu) năm tù.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 02 (hai) năm tù.
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung bị cáo Đỗ Đức T phải chấp hành 18 (mười tám) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-10-2023.
-
Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung Đỗ Đức T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
-
Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
5.1. Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) bì thư đã được niêm phong số 1578/gói 1; có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý giám định Thi Sĩ P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong có chứa 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (ký hiệu M) có chứa chất ma tuý loại Methamphetamine; khối lượng không xác định vì mẫu ở dạng vi vết.
01 (một) bì thư đã được niêm phong số 1578/gói 3; có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Thi Sĩ P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong có 01 (một) bịch nylon bóp miệng (ký hiệu M2.1) chứa chất ma tuý loại Ketamine; khối lượng sau giám định là 0,2163 gam (không phẩy hai một sáu ba) gam.
01 (một) bì thư đã được niêm phong số 1578/gói 4; có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1, trợ lý Thi Sĩ P và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; bên trong có 02 (hai) bịch nylon bóp miệng và 01 (một) bịch nylon hàn kín (ký hiệu M3); chứa chất ma tuý loại Methamphetamine; khối lượng sau giám định là 37,9596 gam (ba bảy phẩy chín năm chín sáu) gam.
01 (một) cân tiểu ly đã qua sử dụng.
03 (ba) cây kéo kim loại đã qua sử dụng.
5.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 355838086397589, bên trong có gắn sim số 0862.406.446; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động của máy; qua kiểm tra thực tế không kiểm tra được số Imei do không kích hoạt được máy.
Tiền Việt Nam 1.000.000 (một triệu) đồng.
5.3. Trả cho bị cáo Đỗ Đức T 01 (một) xe mô tô biển số 70H1- 353.26, loại Exciter, số máy 1S94018451, số khung RLCE1S9408Y018451; đã qua sử dụng; không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe. Theo Phiếu trả lời xác minh xe ngày 18-10-2023 của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh: Xe mô tô biển số 70H1-353.26, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³; màu sơn: Xanh, trắng, đen; số loại: EXCITER, số máy: 1S94018451, số khung RLCE1S9408Y018451; dung tích xi lanh 134,4 cm³; năm sản xuất 2008.
5.4. Trả cho anh Trần Việt H1 01 (một) xe mô tô biển số 70E1- 034.08, loại Sirius, màu đỏ đen; số máy 5C64482938, số khung RLCS5C640BY482937; đã qua sử dụng; không kiểm tra tình trạng hoạt động của xe. Theo Phiếu trả lời xác minh xe ngày 18-10-2023 của Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh: Xe mô tô biển số 70E1-034.08, loại xe: Hai bánh từ 50-175 cm³; màu sơn: đỏ, đen; số loại: Sirius, số máy 5C64482938, số khung RLCS5C640BY482937; dung tích xi lanh 110 cm³; năm sản xuất 2011.
(Vật chứng hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28-3-2024).
5.5. Buộc bị cáo Đỗ Đức T phải nộp số tiền 500.000 (năm trăm ngàn) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
-
Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án Cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Tòng |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Đức Thịnh "Mua bán trái phép chất ma túy"
