Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 33/2024/HSST

Ngày 17 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Công Hiến;
  2. Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/HSST ngày 25/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024, đối với bị cáo:

Lê Hồng P (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 18/7/2002, tại: Tỉnh Quảng Trị; Trú tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Sửa chữa điện thoại; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang T, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; cùng trú tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có ba người con, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 09/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Lê Thị Diệu L, sinh ngày 04/9/2005; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Trần Thị Dạ T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu phố G, Phường A, thành phố Đ tỉnh Quảng Trị, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Anh Lê Hồng N, sinh năm 1999; địa chỉ: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ tỉnh Quảng Trị, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Ông Trần Công N1, sinh năm 1963; địa chỉ: Khu phố F, Phường E, thành phố Đ tỉnh Quảng Trị, vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; địa chỉ: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 06/11/2023, Lê Hồng P đến chơi tại Phòng trọ của Lê Thị Diệu L, tại địa chỉ: Số B- H, Khu phố A, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Chị L). Trong lúc ngồi chơi, P đặt vấn đề mượn xe mô tô biển kiểm soát 74G1- 045.65 (xe mô tô) của L để đi làm, hứa trả trong ngày. Vì “Quan hệ tình cảm” và đã nhiều lần cho P mượn nên chị L đồng ý và giao xe mô tô cùng giấy đăng ký xe mô tô cho P. Sau đó, P sử dụng xe mô tô của chị L để đi làm tại Cửa hàng Đ; địa chỉ: Số F H, Khu phố G, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Chiều tối cùng ngày, P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị L nhưng vì chưa tìm được nơi cầm cố xe nên P để xe mô tô tại nơi làm việc rồi đi xe taxi đến chơi tại Phòng trọ của chị L; gặp P, chị L yêu cầu P trả xe mô tô thì P nói dối “Xe đã cho bạn mượn nên chưa trả được”; chị L yêu cầu P trả gấp xe mô tô để chị L sử dụng.

Từ ngày 07 đến ngày 10/11/2023, P cố ý trốn tránh không gặp chị L và tìm nơi cầm cố xe mô tô. Đến ngày 11/11/2023, nghĩ bán xe sẽ dễ hơn và được số tiền nhiều hơn cầm cố nên P đã đưa xe mô tô đến Cửa hàng Cầm đồ số 9; địa chỉ: Số A Quốc lộ I, Khu phố G, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, bán cho chị Trần Thị Dạ T2; trú tại: Khu phố G, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (chị T2). Khi chị T2 hỏi nguồn gốc xe mô tô, thì P đưa ra giấy đăng ký xe và nói “Xe của P mua lại của người quen, chưa kịp sang tên, khi nào cần sang tên P sẽ giúp”. Chị T2 tin tưởng nên đồng ý mua, với giá 11.000.000 đồng; P giao xe mô tô cùng giấy tờ xe cho chị T2 và nhận 11.000.000 đồng từ chị T2 rồi tiêu xài cá nhân hết số tiền có được từ việc bán xe.

Về phía chị T2: Sau khi mua xe mô tô từ P, đã bán lại cho anh Lê Hồng N; trú tại Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (anh N), với giá 12.000.000 đồng và cam kết “Xe mô tô có nguồn gốc hợp pháp”. Anh N tiếp tục bán xe mô tô cho ông Trần Công N1; trú tại Khu phố F, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (ông N1), với giá 12.800.000 đồng và cam kết “Xe mô tô có nguồn gốc hợp pháp”. Sau đó, ông N1 đăng bài rao bán xe trên mạng xã hội Facebook nhưng chưa bán được thì chị L phát hiện. Biết rõ P đã tự ý bán xe, chiếm đoạt tài sản của mình nên chị L đến Công an phường Đ tố giác tội phạm.

[I] Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát 74G1- 045.65 và Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: 002618; xe mô tô: 74G1-045.65.

[II] Kết quả định giá: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 76/KL-HÐÐGTS ngày 20/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận: Trị giá xe mô tô biển kiểm soát 74G1- 045.65, tại thời điểm ngày 06/11/2023 là: 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).

[III] Cáo trạng truy tố: Cáo trạng số 36/CT-VKSĐH ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Lê Hồng P, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

[IV] Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P, phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hồng P: Từ 10 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách: Từ 20 đến 30 tháng.
  • Về trách nhiệm dân sự: Chị L đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm; bà Nguyễn Thị T1 (mẹ bị cáo) tự trả lại 11.000.000 đồng cho chị T2. Chị T2, anh N và ông N1 không yêu cầu về dân sự; bà T1 không yêu cầu P trả lại khoản tiền 11.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Thấy, quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Về nội dung vụ án:

(1) Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hồng P đã khai nhận toàn bộ hành vi “Chiếm đoạt tài sản là xe mô tô của L” mà bị cáo đã thực hiện vào ngày 11/11/2023 như nội dung Cáo trạng số 36/CT-VKSĐH ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đó là: Đơn tố giác tội phạm, kết quả giải quyết đơn tố giác tội phạm; Biên bản thu giữ vật chứng; Kết luận định giá, lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Như vậy, có đủ cơ sở, kết luận: Ngày 06/11/2023, P đã lợi dụng lòng tin để mượn xe mô tô (Có trị giá 11.000.000 đồng) của chị L, làm phương tiện đi lại. Sau khi sử dụng, P không trả lại xe mô tô cho chị L như đã thỏa thuận (Mượn trả trong ngày) mà nảy sinh ý chiếm đoạt bằng cách đưa xe mô tô đi bán cho chị T2 để lấy tiền tiêu xài mà không trả lại cho chị L nên hành vi nêu trên của bị cáo Lê Hồng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự an ninh ở địa phương nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.

(2) Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, đặc biệt tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu (Chưa từng bị kết án) và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Khi biết bị cáo tự ý đưa xe mô tô của chị L đi bán cho chị T2 để lấy tiền tiêu xài, bà T1 (Mẹ bị cáo) đã tự trả lại 11.000.000 đồng cho chị T2 nên phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

(3) Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và tội phạm bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự nên có mức hình phạt tù không quá 03 năm; Có nhân tốt (Chưa từng bị kết án và bị xử lý hành chính); trong vụ án này, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại khoản 1 cũng như khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo nên áp dụng thêm khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

(4) Về một số vấn đề liên quan trong vụ án: Chị T2, anh N và ông N1 là những người mua bán xe mô tô nhưng không biết xe mô tô đó do P phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

(5) Về trách nhiệm dân sự: Chị L đã nhận lại xe mô tô và không yêu cầu gì thêm; bà T1 (mẹ bị cáo) tự trả lại 11.000.000 đồng cho chị T2. Chị T2, anh N và ông N1 không yêu cầu về dân sự; bà T1 không yêu cầu P trả lại khoản tiền 11.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

(6) Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho chị L là có căn cứ.

(7) Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Hồng P, phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    Lê Hồng P 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án là ngày 17/4/2024.

    Giao bị cáo Lê Hồng P cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

    Buộc bị cáo Lê Hồng P, phải chịu: 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng chẳn) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo bản án:

    Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa (bà Nguyễn Thị T1) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa (Bà Trần Thị Dạ T2, anh Lê Hồng N và ông Trần Công N1) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đông Hà;
  • - Bị cáo, những người TGTT khác;
  • - VKSND tỉnh Q.Trị;
  • - Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • - Công an thành phố Đông Hà;
  • - Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTР.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 33/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hồng P phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiểm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger