|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HSST-CTN Ngày 11 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Thuận Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Hoai – Giáo viên hưu trí.
bà Trương Thị Tuyết Như – Hội liên hiệp phụ nữ.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST – HS – CTN ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 33/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Ngô Phước D
, sinh ngày: 27/9/2007, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Ngô Vũ P và bà Nguyễn Thị Thu T; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/8/2024 tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A cho đến nay (có mặt).
* Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Ngô Phước D: ông Nguyễn Văn N, Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh A. Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: Số H đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Đại diện hợp pháp cho bị cáo Ngô Phước D:
- - Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (có mặt);
- - Ông Ngô Vũ P, sinh năm: 1985; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt);
- - Người đại diện theo ủy quyền của bà T, ông P: ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền ngày 04/9/2024, có mặt).
* Bị hại: Em Võ Thị Thanh N1 (sinh ngày 03/12/2012). Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
Đại diện hợp pháp bị hại: bà Trần Thị Bé T1 (mẹ của bị hại N1, có mặt); nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Ông Võ Thành L (cha của bị hại N1) có văn bản ủy quyền cho bà T1.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Võ Thị Thanh N1: bà Lê Hồ Bích H1, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: Số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).
* Người làm chứng: Có mặt bà Trần Phước H2 và ông Trần Thiện D1.
NHẬN THẤY
Bị cáo Ngô Phước D bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Thông qua mạng internet và ứng dụng điện tử Facebook, Ngô Phước D (sinh ngày 27/9/2007) kết bạn với Võ Thị Thanh N1 (sinh ngày 03/12/2012) và phát sinh quan hệ tình cảm yêu thương. Trong tháng 7/2024, D chở N1 đến nhà trọ “Năm Tuồng” thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, thực hiện hành vi giao cấu với N1 03 lần. Trong đó, lần 1 là khoảng 10 giờ của ngày 05 - 07/7/2024 (không xác định ngày cụ thể); lần 2, cách lần 1 khoảng 04 - 05 ngày và lần 3, cách lần 02 khoảng 07 - 08 ngày. Xong, D đưa N1 về nhà tại ấp M, xã M, huyện P, tỉnh An Giang. Đến ngày 18/8/2024, Trần Thị Bé T1 (mẹ của N1) phát hiện D nhắn tin rủ N1 đi chơi, nên hỏi và được N1 cho biết bị Duy thực hiện hành vi giao cấu 03 lần như đã nêu. Ngày 22/8/2024, T1 đến Công an huyện C trình báo.
Ngày 26/8/2024, D bị khởi tố để điều tra.
* Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 578/24/KLTDTE -TTPY ngày 26/8/2024 và kết quả siêu âm của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Võ Thị Thanh N1, sinh ngày 03/12/2012, xác định:
- Các kết quả chính: Màng trinh: Rách cũ vị trí 6 giờ. Bộ phận sinh dục ngoài không thấy thương tích. Các bộ phận khác không có thương tích liên quan đến vụ việc này.
- Kết luận: Màng trinh: Rách cũ vị trí 6 giờ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 00% (không phần trăm).
- Không thấy túi thai trong lòng tử cung.
* Kết luận giám định số 1254/KL-KTHS ngày 24/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:
Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong: 02 điện thoại di động (ký hiệu: A1, A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A gửi giám định, chi tiết thể hiện trong dĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo giao cho Cơ quan điều tra.
Lời khai bị hại Võ Thị Thanh N1; đại diện hợp pháp của bị hại Võ Thành L, Trần Thị Bé T1 (cha, mẹ của bị hại N1); đại diện hợp pháp của bị can là Ngô Vũ P, Nguyễn Thị Thu T (cha, mẹ của bị can D, ủy quyền cho Nguyễn Minh H) và những người làm chứng Trần Phước H2 (mợ của bị can D), Nguyễn Thị Mỹ D2, Trần Thiện D1, Trần Văn T2, trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Qua sự việc trên, ông L, bà T1 đã nhận bồi thường danh dự, nhân phẩm cho N1 20.000.000 đồng. Ông L, bà T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho D.
* Vật chứng vụ án: Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 của bị can D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03 của bị hại Võ Thị Thanh N1 và đồ vật liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Ngô Phước D khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị cáo và người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 133/CT-VKSAG-P2 ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Ngô Phước D về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm đ khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo D khai nhận hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện bị hại, người làm chứng có mặt tại phiên tòa trình bày phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 98, Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt D mức hình phạt từ 5 đến 7 năm tù. Không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Các biện pháp tư pháp: Về trách nhiệm dân sự, tại phiên tòa, đại diện hợp pháp bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Phát biểu của Người bào chữa:
Người bào chữa cho bị cáo D: ông Nguyễn Văn N thống nhất tội danh cáo trạng truy tố. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo D là người chưa thành niên phạm tội; quá trình điều tra đã bồi thường thiệt hại tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm cho đại diện hợp pháp bị hại; bị cáo thật thà khai báo, hợp tác với Cơ quan điều tra giúp việc điều tra thuận lợi, nhanh chóng và tại phiên tòa tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo còn có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác như nhân thân tốt, là lao động chính. Do đó, đề nghị cân nhắc xử bị cáo mức án đầu khung đề nghị của Viện Kiểm sát đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo Ngô Phước Duy nhất T3 với bản luận cứ bào chữa của Luật sư, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp bị hại: Trợ giúp viên pháp lý Lê Hồ Bích H1 gửi văn bản trình bày quan điểm thống nhất tội danh cáo trạng truy tố; thống nhất đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo do đôi bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại, đại diên bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội khi chưa thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
- Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Ngô Phước D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, và đại diện hợp pháp bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng tháng 7/2024, Ngô Phước D đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu với Võ Thị Thanh N1 (sinh ngày 03/12/2012), là người dưới 13 tuổi, tại nhà trọ “N" thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.
- Hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Phước D đã phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm đ khoản 2 Điều 142 Bộ Luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố bị cáo theo tội danh trên là hoàn toàn có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tình dục, danh dự nhân phẩm trẻ em, là một trong các quyền được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết xử bị cáo hình phạt nghiêm có tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo D là người trực tiếp thực hiện nhiều lần hành vi hiếp dâm cháu N1 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã vận động gia đình tự nguyện nộp khắc phục số tiền cho bị hại; tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Thời điểm phạm tội bị cáo Ngô Phước D 16 tuổi 10 tháng, là người chưa thành niên nên cần vận dụng các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên khi xử lý bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo cũng như người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát luận tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra giữa đại diện bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận xong việc bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm. Tại phiên tòa đại diện bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã trả lại điện thoại cho bị hại và bị cáo. Vật chứng là quần áo không giá trị sử dụng nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Ngô Phước D phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 98, Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Ngô Phước D 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/8/2024.
Trách nhiệm dân sự: Không.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 11 năm 2024 hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang quản lý.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Ngô Phước D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại, đại diện hợp pháp bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hồng Hoai – Trương Thị Tuyết Như |
Lâm Thuận Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lâm Thuận Tùng |
Bản án số 33/2024/HSST-CTN ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Số bản án: 33/2024/HSST-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HD
