Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
  • Thẩm phán phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Chùm, ông Nguyễn Ngọc Uyên và ông Đinh Công Danh.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân – Kiểm sát viên Trung cấp.

Vào ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần trụ sở Trại tạm giam Công an tỉnh P, mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Văn Quốc L, sinh ngày 02 tháng 3 năm 1993; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Phú B, sinh năm 1960 và bà Trần Thị B1, sinh năm 1964; có vợ Lê Thị Hồng P, sinh năm 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bắt tạm giam từ ngày 12/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Văn Quốc L: Ông Lý Mạnh D – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P, Công ty TNHH MTV Đ1; địa chỉ: B D, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người bị hại: Lê Kim V, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Lưu Tiến T, sinh năm 1980. Nơi cư trú: N, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  2. Phạm Văn Đ, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Tô Vương Q, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  4. Nguyễn Trường Công H, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  5. Tô Mai V1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 15/8/2023, Văn Quốc L, Lê Kim V, Lưu Tiến T và một số người khác tổ chức ăn nhậu tại khu vực bãi S thuộc thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, L và V xảy ra mâu thuẫn, V dùng ly nhựa ném vào người L, dùng tay đánh L thì được mọi người can ngăn, chở L về nhà. L vào nhà lấy một con dao dài 45cm, ngồi bên lề đường bê tông trước nhà, để chờ V. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Lưu Tiến T điều khiển xe mô tô chở V đi đến, Lưu chặn xe mô tô, cầm dao chém 01 cái từ trên xuống, V đưa tay trái lên đỡ bị trúng ngón 1, 3, đứt lìa đốt xa ngón 2 bàn tay trái và trúng vào vùng trán trái của V gây nứt bản sọ. Vạn đẩy L té ngã xuống đường, ngồi đè lên người Lưu, dùng hai tay cầm hai tay L. L tiếp tục dùng dao chém nhiều cái trúng vào vai trái, ngực phải và vùng đỉnh đầu của V gây thương tích, thì được can ngăn, đưa V đi cấp cứu.

Kết luận giám định số 351 ngày 21/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận: Lê Kim V bị thương tích 28%, do vật có cạnh sắc gây nên.

Tại Bản Cáo trạng số: 35/CT-VKSPY-P1 ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Văn Quốc L về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Văn Quốc L vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

- Bị hại và người làm chứng có mặt khai về tình tiết vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Kiểm sát viên công bố là đúng.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Văn Quốc L phạm tội “Giết người”.

+ Về Hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Văn Quốc L từ 10 năm đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ bắt tạm giam (ngày 12/3/2024).

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Văn Quốc L đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lê Kim V số tiền 30.200.000 đồng, bị hại Lê Kim V không yêu cầu bị cáo Văn Quốc L phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác, nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) con dao dài 45cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 30cm, có mũi nhọn. - 01(một) cái mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng có ghi dòng chữ GUCCI. - 01 (một) mẫu chất màu nâu thẩm. - Một số sợi lông, tóc thu tại hiện trường.

- Người bào chữa của bị cáo Văn Quốc L là Luật sư Lý Mạnh D trình bày: Do bị hại đánh bị cáo, tuy không để lại thương tích nhưng chứng tỏ vụ án xảy ra có nguyên cớ và bị cáo không phạm tội có tính chất côn đồ; mặt khác bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 30.200.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng; nên xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo và giữ nguyên quan điểm. Bị cáo nói lời sau cùng, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, một số người làm chứng vắng mặt. Nhưng xét thấy, những người này đều đã có lời khai tại hồ sơ, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, người bào chữa của bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo Văn Quốc L tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 15/8/2023, tại thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Văn Quốc L dùng 01 con dao dài 45cm chém nhiều nhát trúng vào vùng trán trái, vai trái, ngực phải, đỉnh đầu, tay trái của Lê Kim V gây nứt bản sọ và các vết thương khác, thì được can ngăn, đưa bị hại đi cấp cứu và điều trị kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị thương tích tỷ lệ 28%; chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ăn nhậu và đã được mọi người can ngăn, đưa về nhà nghỉ ngơi; nhưng bị cáo lại chuẩn bị hung khí nguy hiểm, ngồi chờ bị hại trên đường về để tấn công vào các vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại, thể hiện tính chất phạm tội côn đồ, do đó bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS-P1 ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Văn Quốc L về tội “Giết người” theo Điểm n, Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Bị cáo Văn Quốc L là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, bản thân bị cáo cũng nhận thức rõ hành vi dùng con dao dài 45cm là hung khí nguy hiểm tấn công liên tiếp vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của người khác là hết sức nguy hiểm, có thể dẫn đến hậu quả chết người, nhưng vẫn thực hiện là bất chấp pháp luật, xem thường tính mạng của bị hại, do đó chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên để xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 30.200.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; mặt khác, bị cáo có ông nội, bà nội là người có công với cách mạng; vụ án xảy ra có việc xử sự thiếu tế nhị của bị hại; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên áp dụng Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho phù hợp.

[4] Trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Văn Quốc L đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Lê Kim V số tiền 30.200.000 đồng, bị hại Lê Kim V không yêu cầu bị cáo Văn Quốc L phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác, nên Kiểm sát viên đề nghị không giải quyết là phù hợp, nên chấp nhận.

[5] Xử lý vật chứng: - 01 (một) con dao dài 45cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 30cm, có mũi nhọn. - 01(một) cái mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng có ghi dòng chữ GUCCI. - 01 (một) mẫu chất màu nâu thẩm. - Một số sợi lông, tóc thu tại hiện trường. Là công cụ phạm tội, mẫu vật trực tiếp liên quan đến tội phạm; nhưng không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[6] Án phí: Bị cáo Văn Quốc L bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Văn Quốc L phạm tội “Giết người”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng Điểm n, Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự;

    Phạt: Bị cáo Văn Quốc L – 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 12/3/2024).

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) con dao dài 45cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 30cm, có mũi nhọn. - 01(một) cái mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng có ghi dòng chữ GUCCI. - 01 (một) mẫu chất màu nâu thẩm. - Một số sợi lông, tóc thu tại hiện trường. (Tất cả vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên)

  3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo Văn Quốc L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ CSĐT CA. tỉnh Phú Yên;
  • - PC 11 Công tỉnh Phú Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - CQTT, NTGTT;
  • - P. KTNV THAHS;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về giết người

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSST - VĂN QUỐC L - n k1 Đ 123 - CT TÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger