|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày: 27-08-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đăng Khoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Điệp và ông Nguyễn Hữu Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường UBND xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan VT, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1989, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: nam; con ông Phan VĐ, sinh năm 1962, hiện trú tại thôn X, xã V, huyện C, tỉnh Quảng Trị và bà Đặng TX, sinh năm 1968, hiện trú tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Trị; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn VN, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 07/3/2024, sau khi đi nhậu về, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phan VT điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74E1-011.61 (xe mượn của anh Nguyễn VN) đi từ nhà của mình tại Thôn A, xã B, huyện C đến gần khu vực nhà thờ X thuộc phường Q, thị xã E để tìm mua ma túy. Tại đây, VT gặp một người đàn ông đeo khẩu trang (không rõ lai lịch, địa chỉ), trong quá trình nói chuyện, VT biết người này có bán ma túy nên hỏi mua 300.000 đồng, người đàn ông này đồng ý và đưa cho VT một vỏ bao thuốc lá AROMA màu vàng, bên trong có một gói ni lông nhỏ màu vàng chứa 10 viên nén ma túy tổng hợp. Lấy được ma túy, VT bỏ vào trong bao thuốc lá số tiền 300.000 đồng đưa lại cho người đàn ông rồi cầm số ma túy và điều khiển xe mô tô về nhà để sử dụng.
Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường ĐH 45 thuộc địa phận thôn Q, xã E, huyện C, tỉnh Quảng Trị (phía trước Trường THCS Triệu Đông), thì bị lực lượng tuần tra Công an huyện Triệu Phong ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra, do lo sợ nên VT dùng tay trái thả gói ni lông chứa ma túy xuống đất. Thấy VT có biểu hiện vi phạm nên tổ công tác đã tiến hành mở gói ni lông và kiểm tra trước sự chứng kiến của Phan VT, phát hiện bên trong chứa 10 viên nén nghi là ma túy tổng hợp, VT khai nhận đây là số ma túy mình vừa mua về để sử dụng nên tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đồng thời tạm giữ toàn bộ tang vật có liên quan để điều tra, làm rõ. Quá trình điều tra, Phan VT đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mười viên nén màu hồng được niêm phong phong bì màu trắng, ký hiệu M1 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,9488g (Không phẩy chín bốn tám tám gam).
Cáo trạng số 32/CT-VKSTP ngày 12/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị đã truy tố Phan VT về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Phan VT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan VT từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/3/2024.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định gồm: Một túi niêm phong ký hiệu NS3A077818, bên trong chứa chất bột màu hồng có khối lượng 0,8918 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng bao gói sau giám định. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, máy đã qua sử dụng gắn kèm SIM vinaphone in số 89840200010996347340, SIM vinaphone in số 89840200011601660630, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO không liên quan đến vụ án cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo; Đối với xe mô tô, nhãn hiệu SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 74E1-011.61, quá trình điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu SIRIUS trên là tài sản của ông Nguyễn VN, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nhưng ông VN không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông Nguyễn VN, nay ông VN không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/3/2024, lực lượng tuần tra Công an huyện Triệu Phong đã bắt quả tang đối với Phan VT về hành vi tàng trữ trái phép 10 viên nén ma túy tổng hợp. Tại Bản kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mười viên nén màu hồng được niêm phong phong bì màu trắng, ký hiệu M1 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,9488g (Không phẩy chín bốn tám tám gam). Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine mà bị cáo Phan VT tàng trữ là 0,9488gam. Methamphetamine là chất Ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Như vậy, bị cáo Phan VT đã có hành vi tàng trữ 0,9488 gam ma túy loại Methamphetamine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy nên hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Methamphetamine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam;”
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Phan VT biết rõ tác hại của ma túy và việc tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật mà dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy cũng như việc phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma túy. Hành vi của bị cáo gây tâm lý bất bình, hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo Phan VT là quân nhân xuất ngũ từng có thời gian phục vụ trong lực lượng vũ trang nên cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và quá trình nhân thân của bị cáo, thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam số 10/2024/HSST-QĐTG ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong. Bị cáo bị xử phạt tù, tính đến ngày án có hiệu lực pháp luật không đủ 45 ngày nên Hội đồng xét xử tiếp tục ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo với thời hạn 45 ngày kể từ ngày xét xử để đảm bảo cho việc thi hành án.
[4] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đối với 01 túi niêm phong ký hiệu NS3A077818, bên trong chứa chất bột màu hồng có khối lượng 0,8918 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng bao gói sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị; Một phần gói nilon màu vàng; Một bì thư dán kín niêm phong, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia, đóng dấu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị. Đây là vật cấm tàng trữ lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, máy đã qua sử dụng gắn kèm SIM vinaphone in số 89840200010996347340, SIM vinaphone in số 89840200011601660630: Qúa trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO không liên quan đến vụ án, do đó cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với xe mô tô, nhãn hiệu SIRIUS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 74E1-011.61 xe đã qua sử dụng cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe là tài sản của ông Nguyễn VN. Quá trình điều tra xác định, bị cáo dùng xe mô tô này để đi mua ma túy nhưng ông VN hoàn toàn không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Phong đã trả lại chiếc xe này cho ông Nguyễn VN. Quá trình điều tra, ông VN không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Phan VT: Quá trình điều tra, không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phan VT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự
Tuyên bố bị cáo Phan VT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan VT 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam 07/3/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định gồm: 01 túi niêm phong ký hiệu NS3A 077818, bên trong chứa chất bột màu hồng có khối lượng 0,8918 gam là ma túy loại Methamphetamine, cùng bao gói sau giám định; một phần gói nilon màu vàng, khi trải rộng có kích thước nơi rộng nhất là (12 x11) cm được niêm phong trong một phong bì màu trắng phía trước có chữ “CÔNG AN HUYỆN TRIỆU PHONG”.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Phan VT một điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, gắn kèm SIM vinaphone in số 89840200010996347340, SIM vinaphone in số 89840200011601660630.
(Các loại vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, đặc điểm của các loại vật chứng này được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 giữa Công an huyện Triệu Phong và Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong).
3. Về án phí
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Phan VT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn VN vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đăng Khoa |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 07/3/2024, lực lượng tuần tra Công an huyện Triệu Phong đã bắt quả tang đối với Phan VT về hành vi tàng trữ trái phép 10 viên nén ma túy tổng hợp. Tại Bản kết luận giám định số 368/KL-KTHS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Mười viên nén màu hồng được niêm phong phong bì màu trắng, ký hiệu M1 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 0,9488g (Không phẩy chín bốn tám tám gam). Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine mà bị cáo Phan VT tàng trữ là 0,9488gam. Methamphetamine là chất Ma túy nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Như vậy, bị cáo Phan VT đã có hành vi tàng trữ 0,9488 gam ma túy loại Methamphetamine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy nên hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
