|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-ST Ngày 25-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Quang và ông Hứa Quang Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 25/9/2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh H;sinh năm 1984, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/7/2024 đến nay, hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Bùi Văn Q1, sinh năm 1961 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại là cụ Bùi Thị N (là mẹ đẻ) sinh năm 1938, bà Bùi Thị T (là vợ) sinh năm 1962, chị Bùi Thị M sinh năm 1981, Bùi Thị L sinh năm 1988, anh Bùi Văn T1 sinh năm 1985, anh Bùi Văn L1 sinh năm1991, anh Bùi Trọng L2 sinh năm 1996 (là các con đẻ).
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại cụ Bùi Thị N, bà Bùi Thị T, chị Bùi Thị M, Bùi Thị L, anh Bùi Văn L1, anh Bùi Trọng L2 là anh Bùi Văn T1, sinh năm 1985 – vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn dân sự: Hộ kinh doanh Lê Hữu T2.
Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền là anh Lê Hữu Q2, sinh năm 1990 – vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1977 – vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Anh H (đã có giấy phép lái xe hạng E theo quy định). Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/5/2024, bị cáo H điều khiển xe ô tô khách biển số 47F - 002.52 của nhà xe “Thuần Sự” chở trên xe khoảng 20 người khách đi trên đường H (Quốc lộ A) theo hướng từ thành phố B về huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 18 giờ 08 phút cùng ngày, khi H đang điều khiển xe ô tô đến địa phận phường T, thị xã B thì nhận được cuộc gọi của khách nên H dùng tay phải để nghe điện thoại di động, còn tay trái vẫn tiếp tục điều khiển xe lưu thông. Khi xe đi đến đoạn đường Km 1744+ 550m, thuộc tổ dân phố H, phường T, thị xã B, H phát hiện thấy ông Bùi Văn Q1, sinh năm 1961, đang điều khiển xe mô tô biển số 47K9 - 9472 từ bên phải theo chiều đi của xe ô tô để qua đường, khoảng cách giữa xe ô tô của bị cáo H đang điều khiển với xe mô tô 47K9-9472 khoảng 46m. Lúc này, H vẫn tiếp tục nghe điện thoại, không giảm tốc độ và thiếu chú ý quan sát nên khi ông Q1 điều khiển xe mô tô đến giữa đường do khoảng cách quá gần, H không xử lý kịp nên đã để phía bên phải đầu xe ô tô do mình điều khiển tông thẳng vào bên trái thân xe mô tô do ông Q1 điều khiển gây tai nạn. H xuống xe để kiểm tra thì thấy ông Q1 nằm bất tỉnh dưới đường. Sau đó ông Q1 được người dân đi đường cùng người nhà đưa đến Bệnh viện Đ, thị xã B để cấp cứu, do thương tích nặng ông Q1 được chuyển đến Bệnh viện Đ1, để tiếp tục cấp cứu. Đến khoảng 05 giờ 00 ngày 10/5/2024, ông Q1 đã tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Vụ tai nạn giao thông xảy ra vào khoảng 18 giờ 09 phút ngày 09/5/2024, tại đoạn đường thẳng giao nhau với hai đường nhánh hai bên phần đường ở Km 1744 + 550m đường H, thuộc địa phận tổ dân phố H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Mặt đường được trải bê tông nhựa tương đối bằng phẳng rộng 11,00m; ở giữa đường có vạch sơn kẻ đường màu vàng, đứt quãng để phân chia mặt đường thành hai chiều xe chạy ngược chiều nhau, mỗi phần đường rộng 5,50 m. Tại đoạn đường trên có lề đường dành cho người đi bộ rộng 2m, có hệ thống đèn chiếu sáng công cộng hai bên đường. Bên trong hai đoạn đường nhánh cắt ngang có biển W.208. Tại đoạn đường trên không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn.
Chọn mép đường bên phải theo hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai làm mép đường chuẩn. Lấy cột trụ điện số D477BHO-58 nằm bên trái đường H làm cột mốc cố định.
Sau tai nạn xe ô tô biển số 47F- 002.52 đỗ trên làn đường bên phải theo hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, đầu xe quay về hướng đi tỉnh Gia Lai, đuôi
xe quay về hướng đi tỉnh Đắk Lắk. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải đến mép đường chuẩn là 4,07m; đo đến tâm trục bánh sau xe mô tô 47K9 – 9472 là 1,27 m; đo từ tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô đến mép đường chuẩn là 3,78m.
Xe mô tô 47K9 – 9472 ngã nghiêng bên phải, nằm trên làn đường phía bên phải theo hướng khám nghiệm, đầu xe hướng về phía Tây, đuôi xe hướng về phía Đông. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 5,80m; đo từ tâm trục bánh sau đến mép đường chuẩn là 4,60m.
Trên làn đường bên trái phát hiện 01 dấu vết màu đỏ kích thước (0,14 x 0,16m), có chiều hướng trải đều từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai. Đo từ tâm dấu vết đến mép đường chuẩn là 5,87m; đo đến tâm trục bánh trước xe mô tô 47K9 – 9472 là 5,35m.
Trên làn đường bên phải phát hiện 01 dấu vết xước (số A), kích thước 2,35m, có chiều hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai. Đo từ tâm đầu dấu vết đến mép đường chuẩn là 5,00m, đo đến đầu dấu vết xước (số B) là 0,14m; điểm cuối dấu vết trùng với hệ thống phanh chân mô tô 47K9-9472 và đo đến mép đường chuẩn là 5,25m.
Trên làn đường bên phải phát hiện 01 dấu vết xước (số B), kích thước (2,15)m, có chiều hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai. Đo từ tâm đầu dấu vết đến mép đường chuẩn là 5,14m, điểm cuối dấu vết trùng với bàn gác chân bên phải mô tô 47K9-9472 và đo đến mép đường chuẩn là 5,13 m.
Qua quá trình khám nghiệm hiện trường, dựng lại hiện trường, khám nghiệm phương tiện, khám nghiệm tử thi, vị trí phương tiện, hội đồng khám nghiệm thống nhất xác định điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô 47F- 002.52 và xe mô tô số 47K9 -9472 chiếu vuông góc xuống mặt đường cách mép đường chuẩn 4,5 mét, cách đầu vết cày xước (số A) là 0,85 mét, cách trục sau xe mô tô 47K9-9472 là 2,95 mét, cách điểm mốc cố định là 12,40 mét. Hướng đi của xe ô tô 47F -002.52 trước va chạm là từ thành phố B đi huyện E. Hướng di chuyển của xe mô tô 47K9 - 9472 là di chuyển qua đường, bắt đầu từ mép đường bên phải qua trái theo hướng từ thành phố B đến huyện E.
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số: 126/KLGĐTT-PY, ngày 04 tháng 6 năm 2024, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận nguyên nhân chết của ông Bùi Văn Q1: Chấn thương sọ não nặng/ Nhiều thương tích do tai nạn giao thông.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 6 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản 3422, Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Tài sản bị hư hỏng của 01 xe ô tô biển số 47F - 002.52, nhãn hiệu: FOSOROSA, màu sơn: Bạc-vàng, số khung: RLMBE639XHS000055, số máy: 4D34P77923 do tai nạn giao thông vào ngày 09/5/2024 có giá trị là 1.850.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 28 tháng 6 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản 3422, Ủy ban nhân dân thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Tài sản bị hư hỏng của 01 xe mô tô biển số 47K9 – 9472, nhãn hiệu:
STEED, màu sơn: Đỏ, số khung: WCH0D4UM001082, số máy: 1P52FMH-N001082 do tai nạn giao thông vào ngày 09/5/2024 có giá trị là 700.000 đồng.
Vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B tạm giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 47K9 - 9472, nhãn hiệu: STEED, màu sơn: Đỏ, số khung: WCH0D4UM001082, số máy: 1P52FMH-N001082, tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông và 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AV 894897, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/08/2012, mang tên Bùi Văn Q1; 01 xe ô tô biển số 47F - 002.52, nhãn hiệu: FOSOROSA, màu sơn: Bạc - vàng, số khung: RLMBE639XHS000055, số máy: 4D34P77923, tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47F - 002.52, số 47000632 do Công an huyện E cấp ngày 03/04/2023, mang tên Lê Hữu T2; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 47F - 002.52, số EB 0493398 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ 47-05D cấp ngày 02/04/2024 và 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, số: 008OTBB240000543, do Công ty B khu vực T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 02/04/2024; 01 giấy phép lái xe hạng E, Số/no: 660032040184, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 07/4/2022, mang tên Nguyễn Anh H.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKSBH ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ giữ quyền công tố trình bày luận tội và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như bản cáo trạng. Và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo Nguyễn Anh H cùng bị đơn dân sự Hộ kinh doanh Lê Hữu T2 đã thỏa thuận bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 150.000.000 đồng (trong đó bị cáo đã bồi thường 50.000.000 đồng; bị đơn dân sự Hộ kinh doanh Lê Hữu T2 đã bồi thường 100.000.000 đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về xử lý vật chứng trong vụ án như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Anh H khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với hành vi mà nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, đương sự không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Anh H khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 09 phút ngày 09/5/2024 tại Km 1744 + 550 m đường H, thuộc tổ dân phố H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Nguyễn Anh H có giấy phép lái xe ô tô hạng E theo quy định, điều khiển xe ô tô khách biển số 47F- 002.52 đi theo hướng từ thành phố B đến huyện E, trong quá trình điều khiển xe, bị cáo một tay sử dụng điện thoại di động, một tay điều khiển xe ô tô, khi đi đến gần khu vực ngã tư đường, nhưng bị cáo không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát phía trước, không đảm bảo khoảng cách an toàn cho những người khác khi tham gia giao thông đường bộ, nên đã để xe ô tô do mình điều khiển va chạm với xe mô tô biển số 47K9 – 9472 do ông Bùi Văn Q1 điều khiển qua đường phía trước dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm ông Bùi văn Q3 tử vong. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại; người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo là người có khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ giao thông đường bộ nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng, vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, làm chết người nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho phía bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét tính chất vụ án, tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, hành vi bị cáo thực hiện với lỗi vô ý. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên cho bị cáo được hưởng chế định miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, để bị cáo tự học tập, cải tạo ở ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình là phù hợp, như vậy cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[7] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, về hình phạt và mức hình phạt áp dụng, về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
[8.1] Quá trình điều tra, bị cáo và bị đơn dân sự thỏa thuận và đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền là 150.000.000 đồng bao gồm: Tiền chi phí cho việc cứu chữa là 30.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 100.000.000 đồng; tiền mai táng phí là 10.000.000 đồng; tiền sửa chữa hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 47K9-9472 là 10.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác (theo biên bản thỏa thuận lập ngày 27/5/2024). Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện là phù hợp với khoản 1, khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, Điều 585, Điều 589, 591, 601 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8.2] Đối với chiếc xe ô tô biển số: 47F-002.52, do H1 kinh doanh Lê Hữu T2 làm chủ sở hữu; sau khi xảy ra tai nạn, xe bị hư hỏng, nhưng Hộ kinh doanh Lê Hữu T2 không có yêu cầu ai phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đối với chiếc xe nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8.3] Đối với khoản tiền bị đơn dân sự đã bồi thường cho gia đình bị hại; bị đơn dân sự không có yêu cầu gì đối với bị cáo về khoản tiền này. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã B đã giao trả cho anh Lê Hữu Q2 là đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự Hộ kinh doanh Lê Hữu T2 01 xe ô tô biển số 47F - 002.52, nhãn hiệu: FOSOROSA, màu sơn: Bạc - vàng, số khung: RLMBE639XHS000055, số máy: 4D34P77923, tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47F - 002.52, số 47000632 do Công an huyện E cấp ngày 03/04/2023, mang tên Lê Hữu T2; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 47F - 002.52, số EB 0493398 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ 47-05D cấp ngày 02/04/2024 và 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, số: 008OTBB240000543, do Công ty B khu vực T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 02/04/2024. Và đã trả cho anh Bùi Văn T1 là đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe mô tô biển số 47K9 - 9472, nhãn hiệu: STEED, màu sơn: Đỏ, số khung: WCH0D4UM001082, số máy: 1P52FMH-N001082, tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông và 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AV 894897, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/08/2012, mang tên Bùi Văn Q1, sinh năm 1961, nơi cư trú: phường T, thị xã B theo Quyết định xử lý vật chứng số 313 ngày 14/7/2024.
Xét thấy việc giao trả là phù hợp với khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E, Số/no: 660032040184, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 07/4/2022, mang tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 04/01/1984, nơi cư trú: phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk là giấy tờ liên quan đến nhân thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh H là phù hợp.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[1] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Anh H cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự và các Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 591 và Điều 601 của Bộ luật dân sự.
Ghi nhận bị cáo và bị đơn dân sự thỏa thuận và đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền là 150.000.000 đồng bao gồm: Tiền chi phí cho việc cứu chữa là 30.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 100.000.000 đồng; tiền mai táng phí là 10.000.000 đồng; tiền sửa chữa hư hỏng xe mô tô biển kiểm soát 47K9-9472 là 10.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác (theo biên bản thỏa thuận lập ngày 27/5/2024).
[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3.1] Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã B đã giao trả cho anh Lê Hữu Q2 là đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự Hộ kinh doanh Lê Hữu T2 01 xe ô tô biển số 47F - 002.52, nhãn hiệu: FOSOROSA, màu sơn: Bạc - vàng, số khung: RLMBE639XHS000055, số máy: 4D34P77923, tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 47F - 002.52, số 47000632 do Công an huyện E cấp ngày 03/04/2023, mang tên Lê Hữu T2; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 47F - 002.52, số EB 0493398 do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới đường bộ 47-05D cấp ngày 02/04/2024 và 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, số: 008OTBB240000543, do Công ty B khu vực T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 02/04/2024. Và đã trả cho anh Bùi Văn T1 là đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe mô tô biển số 47K9 - 9472, nhãn hiệu: STEED, màu sơn: Đỏ, số khung: WCH0D4UM001082, số máy: 1P52FMH-N001082, tình trạng hư hỏng do tai nạn giao thông và 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AV 894897, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 25/08/2012, mang tên Bùi Văn Q1, sinh năm 1961, nơi cư trú: phường T, thị xã B theo Quyết định xử lý vật chứng số 313 ngày 14/7/2024.
[3.2] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Anh H 01 giấy phép lái xe hạng E, Số/no: 660032040184, do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 07/4/2022, mang tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 04/01/1984, nơi cư trú: phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.
(Đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ với Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã B và vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ quản lý).
[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Anh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Khanh |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 18 giờ 09 phút ngày 09/5/2024 tại Km 1744 + 550 m đường H, thuộc tổ dân phố H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Nguyễn Anh H có giấy phép lái xe ô tô hạng E theo quy định, điều khiển xe ô tô khách biển số 47F- 002.52 đi theo hướng từ thành phố B đến huyện E, trong quá trình điều khiển xe, bị cáo một tay sử dụng điện thoại di động, một tay điều khiển xe ô tô, khi đi đến gần khu vực ngã tư đường, nhưng bị cáo không giảm tốc độ, thiếu chú ý quan sát phía trước, không đảm bảo khoảng cách an toàn cho những người khác khi tham gia giao thông đường bộ, nên đã để xe ô tô do mình điều khiển va chạm với xe mô tô biển số 47K9 – 9472 do ông Bùi Văn Q điều khiển qua đường phía trước dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm ông Bùi Văn Q tử vong
