Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG KHÊ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh; ông Nguyễn Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 28/10/1976, tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1952 và bà Lê Thị L, sinh năm 1955; có vợ là Thái Thị H2, sinh năm 1980 và 02 con, đứa lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bắt tạm giữ từ ngày 15/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến ngày 30/8/2024 được tại ngoại; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1972 (đã chết), gồm có các chị em ruột: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ thôn I, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai; Bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1969; bị tàn tật được nhận nuôi tại giáo xứ T8; địa chỉ thôn T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1970; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1973; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ tổ dân phố C, xã T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Những người đại diện hợp pháp trên ủy quyền cho ông Trần Đức T1, sinh năm 1972; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ thôn A, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền ngày 24/5/2024); có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Thái Thị H2, sinh năm 1980; nghề nghiệp: Lao động tự do; địa chỉ thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Chị Đinh Thị T2, sinh năm 1992; địa chỉ thôn E, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị N1, sinh năm 1988; địa chỉ thôn G, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
  • + Anh Thái Ngọc Q, sinh năm 1985 (có mặt); anh Nguyễn Đình D1, sinh năm 1987 (vắng mặt); đều địa chỉ thôn F, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Anh Phan Trọng Q1, sinh năm 1979; anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1990; đều địa chỉ thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đều vắng mặt.
  • + Anh Trần Đại T3, sinh năm 1985; địa chỉ thôn A, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).
  • + Anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1991; địa chỉ thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Trường T5, sinh năm 1986; địa chỉ thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 15/5/2024, Nguyễn Xuân H cùng với anh Thái Ngọc Q, Phan Trọng Q1, Nguyễn Đình D1 uống bia tại quán của anh Nguyễn Văn Đ1 ở thôn A, xã H, huyện H. Sau khi uống bia xong, khoảng 18 giờ 33 phút cùng ngày H một mình lái xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 đi từ quán của anh Nguyễn Văn Đ1 theo đường Quốc lộ 15 hướng đi xã H, huyện H để về nhà. Khoảng 18 giờ 35 phút cùng ngày khi đi đến K+978 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn A, xã P, do có chuông điện thoại reo H nhìn xuống nên thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đầu xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1972, trú tại thôn A, xã P đi bộ cùng chiều sát lề đường bên phải, hậu quả làm anh D chết tại hiện trường.

Sau khi gây tai nạn, do hoảng loạn H không dừng xe lại mà tiếp tục điều khiển xe ô tô gây tai nạn bỏ chạy khỏi hiện trường theo đường H vào tỉnh Quảng Bình, trên đường đi H gọi điện thoại cho vợ chị Thái Thị H2 nói việc gây tại nạn ở thôn A, xã P ra xem có chết người không. Khi đến địa phận thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình thì xe ô tô bị chết máy nên H gửi xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.64 tại vườn nhà anh Nguyễn Trường T5, sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã H, huyện T. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi H đang ở xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình thì bị cơ quan CSĐT Công an huyện H giữ người trong trường hợp khẩn cấp; đồng thời, kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với H có kết quả là 0,672 mg/lít.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ nằm trên khu vực đường Q, thuộc thôn A, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Đường được rải thảm nhựa bằng phẳng, rộng 5,3m, thẳng, giữa đường có vạch kẻ sơn nét đứt màu vàng, hai bên mép đường không có vạch sơn, ngoài hai bên mép đường là lề cỏ rộng 2,0m. Phía Đ2 là hướng đi xã H; phía Tây là hướng đi xã H; ngoài lề đường phía Bắc tiếp giáp đất sản xuất nông nghiệp thuộc thôn A xã P; ngoài lề đường phía Nam tiếp giáp mương thoát nước, ngoài mương tiếp giáp đất vườn hộ ông Cao L1 và hộ anh Trần Quốc T6, thôn A, xã P.

Chọn cống mương thoát nước qua đường Q (tại Km433+910) nằm ở phía Tây hiện trường làm mốc cố định. Chọn mép đường bên phải theo chiều xã H, huyện H đi xã H, huyện H làm mép chuẩn. Từ mép phía Đông của mương thoát nước đo theo hướng Đông 68,0m là chiếc dép nhựa bên trái, màu vàng, kích thước 0,25x0,1m, loại dép tổ ong, đánh số (1) trên hiện trường, nằm ngữa trên làn đường bên phải theo chiều xã H đi xã H, đầu dép hướng Bắc, cuối dép hướng N2, tâm dép cách mép chuẩn 0,3m. Từ chiếc dép bên trái đo theo hướng Đông 4,5m là đầu của thanh gỗ. T7 gậy gỗ hình khối, cạnh 0,03m, dài 0,85m đánh số (2) trên hiện trường, nằm dưới mương thoái nước phía Nam hiện trường, đầu gậy hướng Bắc, cuối gậy hướng N2, đầu gậy đo đến mép chuẩn 2,45m, cuối gậy vào mép chuẩn là 3,2m. Từ đầu gậy đo theo hướng Đông 17,5m là chiếc dép nhựa bên phải, màu vàng, kích thước 0,35x0,1m, loại dép tổ ong đánh số (3) trên hiện trường, nằm trên làn đường bên trái theo chiều xã H đi xã H, đầu dép hướng Bắc, cuối dép hướng N2, tâm dép đo đến mép chuẩn 3,3m. Từ chiếc dép nhựa bên phải đo theo hướng Đông 0,8m là mảnh vỡ nhựa màu trắng, dài 0,35m, nơi rộng nhất 0,02m, đánh số (4) trên hiện trường, nằm trên làn đường bên trái theo chiều xã H đi xã H, tâm mảnh vỡ cách mép chuẩn 3,5m. Từ tâm mảnh vỡ đo theo hướng Đông 7,2m là tâm vết máu đỏ tươi, kích thước 1,0x0,2m, đánh số (5) trên hiện trường, vết máu nằm trên mép chuẩn. Từ tâm vết máu đo theo hướng Nam 1,0m là đầu tử thi đánh số (6) trên hiện trường, tử thi nằm ngửa trên lề đường bên phải theo chiều xã H đi xã H, đầu tử thi hướng Tây đo đến mép chuẩn 0,7m, chân tử thi hướng Đông đo đến mép chuẩn 0,5m.

Hệ thống biển báo giao thông: Từ mép phía Đông của mương thoát nước đo theo hướng Đông 51,8m là cột biển báo giao thông giao nhau với đường không ưu tiên (ký hiện W207b), nằm trên lề đường bên phải theo chiều xã H đi xã H.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Đình D vào lúc 21h50 ngày 15/5/2024 phản ánh: Tử thi mặc áo ngắn tay chấm hoa màu đen, trong mặc áo màu xanh, mặc quần đùi màu nâu. Chiều dài 1,52m, thể trạng trung bình, tình trạng tử thi đang mềm. Các dấu vết trên cơ thể: Vùng chẩm sau trên đỉnh vành tai trái 10cm cách trên đường chân tóc gáy 05cm có dấu sưng nề bầm tụ máu, kích thước 10x12cm, trên nềm sưng nề có vết thương, kích thước 3x01cm. Toàn bộ vùng lưng xây xát da, bầm tụ máu, kích thước 17x8cm. Mặt sau 1/3 trên đùi trái, cách nếp lằn mông 03cm có vết thương, kích thước 02x01cm, bờ mép gọn. Gãy biến dạng xương đùi hai bên. Mặt ngoài từ đầu gối xuống đến bàn chân phải có nhiều vết xây xát da rải rác. Mặt sau khuỷu tay phải có vết bầm tụ máu, kích thước 10x03cm. Giải phẫu vùng đầu: Tụ máu dưới da đầu vùng chẩm, vỡ xương sọ não vùng chẩm. Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 715/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Đình D là chấn thương sọ não. Cơ chế hình thành thương tích trên tử thi anh Trần Đình D2 là do tác động tương hỗ của cơ thể với vật tày. Vết thương vùng đầu gây vỡ xương hộp sọ là nguyên nhân chính dẫn đến anh Nguyễn Đình D chết.

Biên bản khám nghiệm xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 ngày 16/5/2024 và bản kết luận giám định cơ học số 769/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Cơ chế hình thành các dấu vết để lại trên xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62: Dấu vết móp lõm theo chiều hướng từ trên xuống dưới, tâm vùng móp lõm dạng hình tròn, đường kính 5cm tại mặt trên nắp capo xe ô tô được hình thành do va chạm với vật có bề mặt nhẵn, cứng (dạng hình đầu người). Dấu vết móp méo theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, tâm dấu vết cao cách mặt đất 103cm tại mặt ngoài nắp capo; Dấu vết cong gập theo chiều hướng từ trước ra sau, tâm dấu vết cao cách mặt đất 64cm tại biển kiểm soát phía trước; Dấu vết nứt gãy tại thanh ốp nhựa thứ nhất và thứ 5 (tính từ dưới lên) của ốp tản nhiệt bên trên phía trước xe ô tô hình thành do va chạm với vật có tiết diện rộng, bề mặt mềm (dạng cơ thể người). Không đủ cơ sở để kết luận xe ô tô mang biển kiểm soát 38A-299.62 có va chạm với anh Nguyễn Đình D hay không. Mảnh vỡ nhựa màu trắng dài 35cm, nơi rộng nhất 2cm thu tại hiện trường gãy rời khỏi phương tiện từ thanh ốp nhựa thứ hai (từ dưới lên) tại ốp tản nhiệt bên phía trước xe ô tô mang biển kiểm soát 38A-299.62. Không đủ cơ sở để kết luận tốc độ của xe ô tô mang biển kiểm soát 38A-299.62 tại thời điểm ngay trước, trong khi xảy ra tai nạn.

Bản kết luận giám định mẫu máu số 745/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Chất bám dính nâu đỏ thu giữ trên phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 gửi giám định là máu người thuộc nhóm máu B trong hệ nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của mẫu máu thu từ tử thi anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1972, trú tại thôn A, xã P, huyện H gửi tới giám định.

Về vật chứng thu giữ, xử lý: Cơ quan CSĐT Công an huyện thu giữ tại hiện trường 01 gậy gỗ hình khối, cạnh 0,03m, dài 0,85m; 01 đôi dép nhựa màu vàng, loại dép tổ ong, mỗi chiếc kích thước 0,25x0,1m; 01 mảnh vỡ nhựa màu trắng, dài 0,35, nơi rộng nhất 0,02m. Thu giữ từ anh Nguyễn Xuân H4 - Trưởng công an xã P 01 đĩa DVD RW dung lượng 4,38Gb, mặt ngoài đĩa ghi “File video soát xét di biến động tại khu vực hiện trường vụ việc ngày 15/5/2024 tại xã P” (bên trong lưu giữ 03 file video). Thu giữ từ anh Nguyễn Trường T5: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford, số loại Everest, biển kiểm soát 38A-299.62, số khung UHAM9CR12755, số máy WLAT1123653 (bị hư hỏng một số bộ phận). Thu giữ bị cáo H giao nộp: 01 thẻ nhớ, dung lượng 32Gb (dữ liệu camera hành trình của xe ô tô 38A-299.62); 01 giấy phép lái xe, số C, hạng C, cấp ngày 21/10/2016, có giá trị đến ngày 19/10/2026; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 042145; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn phương tiện xe ô tô biển đăng ký 38A-299.62, có giá trị đến ngày 23/8/2024; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe ô tô, số [...], do Công ty B cấp ngày 24/8/2023; 01 đĩa DVD dung lượng 4.38Gb, ngoài đĩa ghi “Video vụ TNGT xẩy ra ngày 15/5/2024 tại xã P, H” (lưu trữ 04 video trích xuất từ camera hành trình của xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62).

Quá trình điều tra, xác định xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 là tài chung hợp pháp của bị cáo và vợ là chị Thái Thị H2 nên sau khi khám nghiệm phương tiện, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô trên cùng thẻ nhớ, mảnh vỡ nhựa và các giấy tờ liên quan đến việc sử dụng xe ô tô cho chị Thái Thị H2; trả lại cho người đại diện của bị hại 01 đôi dép và 01 gậy gỗ. Đối với 01 đĩa DVD bên trong có chứa các video soát xét di biến động tại khu vực hiện trường ngày 15/5/2024 tại xã P; 01 đĩa DVD bên trong có chứa các đoạn video trích xuất camera hành trình xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 và 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Xuân H chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Xuân H đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho đại diện bị hại tổng số tiền 150.000.000đ, nay đại diện hợp pháp bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS-HK ngày 05/9/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Xuân H khai nhận về hành vi của mình như nội dung trên và không có ý kiến gì tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù và buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân H tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án trên. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản, kết luận khám nghiệm tử thi, phương tiện liên quan trong vụ tai nạn, các file video soát xét di biến động tại khu vực hiện trường, file video trích xuất từ camera hành trình xe ô tô và các biên bản, kết quả điều tra, có đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 15/5/2024, Nguyễn Xuân H có giấy phép lái xe theo quy định, sau khi uống bia bị cáo một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 đi từ xã H theo đường Q để về nhà ở xã H, khi đi đến K+978 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn A, xã P, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đầu xe ô tô do H điều khiển đâm vào anh Nguyễn Đình D đang đi bộ sát lề đường bên phải cùng chiều phía trước. Hậu quả anh Nguyễn Đình D chết tại hiện trường. Sau tai nạn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 38A-299.62 bỏ trốn khỏi hiện trường. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của H là 0,672mg/l.

[3] Hành vi của Nguyễn Xuân H điều khiển xe ô tô tham gia giao thông do không chú ý quan sát, vi phạm quy tắc giao thông đường bộ tại khoản 23 Điều 8, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và vi phạm quy định tại Điều 5 của Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G, quy định “Người điều khiển tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: Có biển cảnh báo nguy hiểm hoặc chướng ngại vật trên đường", nên gây ra tai nạn giao thông hậu quả làm anh Nguyễn Đình D chết, do đó hành vi của bị cáo cấu thành Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị cáo điều khiển xe ô tô sau khi đã uống bia, có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,672 mg/l là vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ và sau khi xảy ra tai nạn bị cáo điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường là vi phạm khoản 17 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “điểm b. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” và “điểm c. Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo theo điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Xét về lỗi trong vụ án là thuộc về bị cáo. Đặc biệt, xét về ý thức tham gia giao thông, mặc dù đã uống bia trong tình trạng hơi thở có nồng độ cồn vượt quá quy định nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, hậu quả gây tai nạn làm chết người và sau tai nạn bị cáo điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường, do đó hành vi của bị cáo thể hiện ý thức tham gia giao thông kém, đáng phải lên án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau tai nạn bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có mẹ là bà Lê Thị L được tặng huy chương trong kháng chiến chống Mỹ, hưởng chính sách như thương binh, là người có công với cách mạng nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, để bị cáo an tâm cải tạo, giáo dục sớm trở về hòa nhập cộng đồng xã hội.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các điều, khoản, điểm; tội danh; mức hình phạt là có căn cứ như đã phân tích trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về các biện pháp tư pháp: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu về bồi thường thiệt hại, nên không xem xét. Cơ quan thi hành án dân sự huyện H hiện không quản lý vật chứng trong vụ án, nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 21 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2024 đến ngày 30/8/2024.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND huyện Hương Khê;
  • - CQĐT CA huyện Hương Khê;
  • - CQTHAHS CA huyện Hương Khê;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Khê;
  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu HSVA - VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal case)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Xuân H VPGT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger