Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ L

TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh H

Ông Giàng A Chỉnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố L, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Gia Binh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST – HS ngày 13/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HS ngày 10/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tòng Văn P (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1997 tại tỉnh L; Nơi cư trú: Bản B, xã T, huyện T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Tòng Văn Chom, sinh năm 1979 và bà Lù Thị Lữu, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/01/2024 đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, Tòng Văn P một mình đi bộ từ P trọ của mình tại số nhà 132 đường Lê Duẩn, thuộc tổ 1, phường Tân Phong, thành phố L, tỉnh L (nhà của anh Kiều Duy H, sinh năm 1989 trú tại tổ 1, phường Tân Phong) đến phường Đông Phong, thành phố L để tìm mua Heroine sử dụng. Khi P đi đến khu vực bãi cát thuộc tổ 28, phường Đông Phong thì gặp một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch đang đứng bên đường, nhìn giống người nghiện ma túy nên P đã hỏi mua Heroine với người này. Qua trao đổi mua bán, P mua được của người phụ nữ nói trên 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 01 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt màu trắng đỏ với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, P đi lên khu vực đồi chè gần đó và lấy một ít Heroine ra sử dụng bằng hình thức hít, còn người phụ nữ đi đâu P không biết. Sử dụng Heroine xong, P gói số Heroine còn lại như cũ, cầm trong lòng bàn tay trái rồi quay lại khu vực bãi cát để về nhà trọ. Hồi 22 giờ 20 phút cùng ngày, khi P vừa quay lại đến khu vực bãi cát thuộc tổ 28, phường Đông Phong thì bị tổ công tác Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đông Phong, thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine P đang tàng trữ để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 03/KLGĐ ngày 11/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 163/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của P Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Tòng Văn P trong quá trình bắt quả tang ngày 10/01/2024 có khối lượng là 0,12 gam. Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Vật chứng đã thu giữ: 0,12 gam Heroine thu giữ của Tòng Văn P đã gửi toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu vật. Còn lại: 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng đỏ, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L, chờ xử lý.

Cáo trạng số 18/CT- VKSTP, ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Tòng Văn P về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tòng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị:

Xử phạt bị cáo Tòng Văn P mức án từ 13 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng đỏ.

Đối với 0,12 gam Heroine thu giữ của Tòng Văn P đã gửi toàn bộ đi giám định tại P kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa bị cáo Tòng Văn P khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 20 phút ngày 10/01/2024, tại tổ 28, phường Đông Phong, thành phố L, tỉnh L, Tòng Văn P đang tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố L phối hợp với Công an phường Đông Phong, thành phố L phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Tòng Văn P là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: [...]

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [...]

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực P chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và P ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

- 0,12 gam Heroine thu giữ của Tòng Văn P đã gửi toàn bộ đi giám định tại P kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, không hoàn lại mẫu vật, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng đỏ. Xét đây là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[8] Trong vụ án này: Bị cáo Tòng Văn P khai nguồn gốc 0,12 gam Heroine bị thu giữ là mua của một người phụ nữ tại khu vực bãi cát thuộc tổ 28, phường Đông Phong, thành phố L. Tuy nhiên P không biết nhân thân lai lịch, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Đối với anh Kiều Duy H, là người đã cho P ở trọ tại số nhà 132 đường Lê Duẩn, thuộc tổ 1, phường Tân Phong: Quá trình điều tra xác định anh H không biết Tòng Văn P là người nghiện ma tuý và không liên quan đến việc P đi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.

[9] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Tòng Văn P pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tòng Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Tòng Văn P 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Tòng Văn P để đảm bảo cho việc thi hành án.

[3] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì công văn của Công an thành phố L, theo hồ sơ bên trong gồm: 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu trắng đỏ. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định thu giữ của Tòng Văn P, trong quá trình bắt quả tang ngày 10/01/2024.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 15 phút ngày 12/4/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).

[4] Về án phí: Buộc bị cáo Tòng Văn P pH chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh L;
  • - VKSND tỉnh L;
  • - Công an TP L;
  • - VKSND TP L;
  • - Chi cục THADS TP L;
  • - Sở Tư pháp tỉnh L;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger