Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hường –Giáo viên hưu trí.

2. Ông Hán Văn Mai –Phó hiệu trưởng Trường THPT An Phước.

-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều–Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải Long-Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/HSST ngày 12/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 12/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Hán Văn K-sinh ngày: 14/02/2008, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hán Văn T và bà Thiên Thị N; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: -Ngày 25/8/2023, bị UBND thị trấn P xử phạt hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 309/QĐ-XPHC; - Ngày 13/03/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố bị can, ra Lệnh tạm giam về hành vi cướp tài sản tại thôn N, xã P, huyện N vào ngày 05/03/2024. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/3/2024 và chuyển sang tạm giam ngày 14/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện N-Ninh Thuận (có mặt tại phiên tòa).

2. Bị cáo: Y Sinh H -sinh ngày: 07/9/2007, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Bà la môn; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Y Quang H1 và bà Trượng Thị Kim T1; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện N-Ninh Thuận, đến ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt tại phiên tòa).

-Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hán Văn K: Ông Hán Văn T–sinh năm 1984 và bà Thiên Thị N–sinh năm 1994, cùng trú: Khu phố M, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận (là cha mẹ ruột của bị cáo K-có mặt).

+Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).

-Người đại diện hợp pháp của bị cáo Y Sinh H2: Ông Y Quang H1-sinh năm 1986, trú tại: thôn H, xã P, huyện N, Ninh Thuận và bà Trượng Thị Kim T1–sinh năm 1987, trú tại: thôn P, xã P, N, Ninh Thuận (là cha mẹ ruột của bị cáo H2, ông H1 vắng mặt, bà T1 có mặt).

+Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận: Ông Trượng Văn S–Phó bí thư xã Đoàn (có mặt).

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo Hán Văn K và Y Sinh H2: Bà Đinh Thị N1–Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

-Bị hại: em Văn Gia H3-sinh ngày: 12/12/2014, trú tại: thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận (có đơn xin vắng mặt).

-Người đại diện hợp pháp của bị hại Văn Gia H3: Ông Văn Quốc T2–sinh năm 1988 và bà Lê Thị H4–sinh năm 1989, cùng trú: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận (là cha mẹ ruột của bị hại H3, ông T2 vắng mặt, bà H4 có mặt).

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Văn Gia H3: Bà Hoàng Thị Thanh T3–Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt).

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Hòa H5–Sinh năm: 1989; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 03/7/2023, Hán Văn K điều khiển xe mô tô biển số 85D1-481.09, đi đến nhà T ở thôn P, xã P, huyện N, chơi thì gặp Y Sinh H2 đang chơi ở nhà Đ, còn Đ đang ngủ trong nhà. Lúc này, K rủ H2 đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài thì H2 đồng ý nên K lấy xe mô tô 85D1-481.09 chở H2 đi đến thôn V, xã P, do mệt nên K đưa xe cho H2 chở. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H2 chở K đi đến đoạn đường bê tông nằm giữa sân phơi và Trường Tiểu học T4 thì thấy hai em Văn Gia H3 và Văn Gia P đang đi bộ ngược chiều đến, trên tay em H3 cầm chiếc điện thoại di động. Thấy vậy, K rủ H2 giật điện thoại của em H3 thì H2 đồng ý nhưng không dám giật mà nói K giật. Sau đó, H2 chở K quay xe lại đến gần chỗ em H3 để K xuống, còn H2 ngồi trên xe nổ máy chờ sẵn. K đi bộ đến gần nói em H3 đưa điện thoại nhưng em H3 không đưa mà hai tay cầm điện thoại ôm vào trước ngực thì ngay lập tức K dùng tay phải giật chiếc điện thoại em H3 đang cầm trên tay rồi nhảy lên xe để H2 chở tẩu thoát.

Sau đó, K, H2 mang điện thoại đến tiệm Đ1 ở khu phố A-P-N bán cho ông Phan Hòa H5 là chủ tiệm với giá 500.000đồng. K chia cho H2 100.000đồng, đưa cho Y Quang N2 (em H2) 50.000đồng để mua xà bông, còn 350.000đồng K tiêu xài hết.

Ngoài ra Hán Văn K còn có hành vi cướp tài sản của người khác vào ngày 05/03/2024 tại thôn N, xã P, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố, bắt tạm giam.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KLĐGTS-PTCKH ngày 20/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 điện thoại di động Redmi Note 9 Pro 5G, màu xanh đen (tỷ lệ còn lại 20%) bị chiếm đoạt có giá trị là 690.000đồng.

Tại Bản kết luận giám định độ tuổi số 1841/KLGDĐT-C09B, ngày 12/3/2024 của P1 Bộ C tại TP . kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 3 năm 2024), Hán Văn K có độ tuổi từ 15 năm 10 tháng đến 16 năm 04 tháng. Do đó tại thời điểm phạm tội, Hán Văn K là 15 năm 02 tháng tuổi.

Tại Bản kết luận giám định độ tuổi số 1765/KLGDĐT-C09B, ngày 18/3/2024 của P1 Bộ C tại TP . kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 3 năm 2024) Y Sinh H2 có độ tuổi từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm. Do đó tại thời điểm phạm tội, Y Sinh H2 là 15 năm 10 tháng tuổi.

Vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ đồ vật, chứng cứ và xử lý:

-01 điện thoại di động Redmi Note 9 Pro 5G, màu xanh đen-là tài sản của Văn Gia H3 bị trộm cắp nên đã trả lại cho H3;

-01 xe mô tô 85D1-481.09, màu đen-xám, hiệu Honda, loại Wave RSX, và 01 chìa khóa xe mô tô-là tài sản của ông Hán Văn T. Ông T không biết K sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, nên đã trả lại cho ông T.

Về dân sự: Em Văn Gia H3 và ông Phan Hòa H5 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-HS ngày 10/6/2024 của Viện kiểm sát huyện N truy tố bị cáo Hán Văn KY Sinh H2 về tội “cướp giật tài sản” tại Điểm g Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện N vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 171, Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 58, Điều 91, 101 của BLHS. Xử phạt bị cáo Hán Văn K từ 18 đến 24 tháng tù.

Áp dụng: Điểm g Khoản 2 Điều 171, Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 91, 101 của BLHS. Xử phạt bị cáo Y Sinh H2 từ 12 đến 15 tháng tù.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại b, s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS, để xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị HĐXX xử lý các bị cáo theo pháp luật.

Tại phiên tòa, Đại diện UBND xã P đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Y Sinh H2.

Các bị cáo đồng ý với quan điểm tranh luận của Trợ giúp viên pháp lý.

Lời nói sau cùng trước khi HĐXX vào nghị án: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ ngày 03/7/2023, bị cáo Hán Văn K rủ bị cáo Y S1 H2 thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại di động Redmi Note 9 Pro 5G, màu xanh đen có giá trị 690.000đồng của em Văn Gia H3-là người dưới 16 tuổi tại thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, các bản cung, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả tranh luận tại phiên tòa. HĐXX kết luận các bị cáo KH2 phạm tội “Cướp giật tài sản”quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 171 BLHS như cáo trạng Viện kiểm sát huyện N truy tố là có căn cứ.

[3] Các bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng với bản tính tham lam, lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên các bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành phạm tội của mình, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của em Văn Gia H3, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Do vậy phải đưa các bị cáo ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

[4] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả, nhân thân của từng bị cáo:

[4.1] Đối với bị cáo Hán Văn K: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 25/8/2023, bị UBND thị trấn P xử phạt hình thức Cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 13/03/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố bị can, ra Lệnh tạm giam về hành vi cướp tài sản tại thôn N, xã P, huyện N vào ngày 05/03/2024.

HĐXX nhận thấy bị cáo là người khởi xướng, xúi giục bị cáo Y Sinh H2 dưới 18 tuổi phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS; Tuy nhiên, cần xét cho bị cáo là không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại nên chưa gây thiệt hại; Gia đình bị cáo đã hỗ trợ số tiền 500.000đồng cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4.2] Đối với bị cáo Y Sinh H2: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản đã được thu hồi trả lại người bị hại nên chưa gây thiệt hại; Gia đình bị cáo đã hỗ trợ số tiền 500.000đồng cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng Điều 54 BLHS để giảm nhẹ ở khung hình phạt liền kề là phù hợp. Xét các bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội, nên áp dụng nguyên tắc xét xử đối với bị cáo là người chưa thành niên theo quy định tại Điều 91, Điều 101 BLHS.

Tại thời điểm phạm tội (ngày 03/7/2023), bị cáo K mới 15 năm 02 tháng tuổi. Bị cáo H2 mới 15 năm 10 tháng tuổi. Xét các bị cáo là người chưa thành niên dưới 16 tuổi phạm tội. Tại Khoản 2 Điều 101 BLHS quy định “đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ½ mức phạt tù mà điều luật quy định”.

Đây là vụ án đồng phạm, các bị cáo phạm tội đều là người chưa thành niên. Trong đó K là người khởi xướng, xúi giục H2 thực hiện hành vi phạm tội đồng thời cũng là người thực hành, còn H2 là đồng phạm với vai trò là người giúp sức. Vì vậy nên bị cáo K phải chịu mức hình phạt nặng hơn so với bị cáo H2.

[6] Dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại và người liên quan không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xét.

[7] Vật chứng: Các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xét.

[8] Căn cứ nhận định trên, xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát huyện N về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

[9] Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị HĐXX xử lý các bị cáo theo pháp luật.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo đề nghị áp dụng quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội để xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên Trợ giúp viên pháp lý có ý kiến tranh luận tại phiên tòa đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS, để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Xét thấy: Tài sản mà các bị cáo cướp giật là chiếc điện thoại đã được thu hồi trả lại cho bị hại và người bị hại không yêu cầu bồi thường dân sự. Việc gia đình các bị cáo tự nguyện đưa số tiền 1.000.000đồng để hỗ trợ cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Khoản 2 Điều 51 BLHS, chứ không xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”. Vì vậy HĐXX không chấp nhận ý kiến tranh luận tại phiên tòa của Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo.

[10] Đối với ông Phan Hòa H5 khi mua chiếc điện thoại di động của các bị cáo nhưng ông H5 không biết điện thoại do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý hình sự là có căn cứ.

[11] Về án phí: Do các bị cáo đều là trẻ em nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm g Khoản 2 Điều 171, Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Hán Văn K phạm tội “cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hán Văn K 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 08/3/2024).

2. Căn cứ vào: Điểm g Khoản 2 Điều 171; Điểm s, h Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Y Sinh H2 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Y Sinh H2 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 02/5/2024).

3. Áp dụng: Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);

Tiếp tục tạm giam bị cáo Y S1 Hoàng 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án, theo quyết định tạm giam số 83/2024/HSST-QĐTG ngày 30/7/2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí Tòa án.

Các bị cáo Hán Văn KY S1 H2 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30/7/2024). Người bị hại vắng mặt-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về cướp giật tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hán Văn K.và Y Sinh H. về tội “cướp giật tài sản” theo Điểm g Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger