|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày: 19 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Cảnh
Bà Nguyễn Thị Hưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 27/6/2024 đối với các bị cáo:
- Trương Ngọc S; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1994; Địa chỉ thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Trương Văn H (đã chết); Mẹ: Đặng Thị H1, sinh năm 1966; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Trương Thị Kim T, sinh năm 1987, có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 31/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 06/QĐ-TA.
Bị cáo chấp hành biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc từ ngày 11/11/2023 đến nay tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thanh T1; Giới tính: N; Sinh năm: 1994; Địa chỉ thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Cha: Nguyễn Quang V, sinh năm 1965; Mẹ: Trương Thị T2, sinh năm 1970; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 12/12/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999 tại bản án hình sự phúc thẩm số 231/2014/HSPT. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.
- Ngày 04/4/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 tại bản án hình sự phúc thẩm số 35/2018/HSPT. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/6/2019 và đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án.
- Ngày 28/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 04/QĐ-TA.
Bị cáo chấp hành biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc từ ngày 06/10/2023 đến nay tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Khánh Hòa; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Viễn thông K
Địa chỉ: 50 L, phường LT, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Minh H2 – Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Lê T3, sinh năm 1969 – Nhân viên kỹ thuật thuộc Tổ Hạ tầng - Trung tâm V1 (Theo giấy ủy quyền số 83/TTVTDK ngày 01/11/2023); Địa chỉ thường trú: Thôn V, xã V, N, Khánh Hòa. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Đặng Thị H1 - sinh năm 1966 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
* Người làm chứng:
- - Ông Huỳnh Thanh H3 - sinh năm 1966 (có mặt)
- Địa chỉ: TDP D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
- - Ông Trần Đỗ C - sinh năm 1999 (vắng mặt)
- Địa chỉ: C, H, Thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
- - Ông Trần Hồng C1 - sinh năm 1965(có mặt)
- Địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Ngọc S và Nguyễn Thanh T1 là hai đối tượng nghiện ma túy đá.
Khoảng 23 giờ 00 ngày 15/3/2023, S đến nhà T1, rủ T1 đi cắt trộm đường dây cáp điện thoại của Trung tâm V1 bán lấy tiền tiêu xài, T1 đồng ý. S chuẩn bị 01 kềm cộng lực rồi qua nhà chở T1 đi, khi đi trên đường Đ thuộc tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, thấy đoạn dây cáp đang thòng xuống đường, T1 đi đến kéo đoạn dây cáp xuống, S dùng kềm cộng lực cắt một đoạn dây cáp dài khoảng 30m, sau đó cả hai cắt thành nhiều đoạn nhỏ rồi mang về bán cho mẹ S là bà Đặng Thị H1 nhưng bà H1 bảo đem đốt hết phần nhựa bên ngoài, bà H1 chỉ mua phần lõi đồng bên trong. Sau đó, T1 đem một nửa đoạn dây cáp đi đốt và lấy lõi đồng, bán cho bà H1 được 1.100.000 đồng. Cả hai chia nhau tiêu xài.
Các đoạn dây cáp còn lại, T1 đem về nhà cất, đến sáng hôm sau, T1 rủ Trần Đỗ C đem số dây cáp còn lại ra trạm bơm ở tổ dân phố P, thị trấn D đốt để lấy lõi đồng đem bán, C đồng ý. Khi T1 và C đang đốt thì bị Công an thị trấn D tuần tra phát hiện.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 5/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản – Ủy ban nhân dân huyện D kết luận: 30m dây cáp điện thoại, bên trong có nhiều lõi dây đồng, trị giá 5.355.000 đồng.
Qúa trình điều tra, xác định được S còn tiếp tục thực hiện 01 vụ cắt trộm dây cáp khác, cụ thể:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06/9/2023, S đi bộ từ Cầu Thành về nhà hỏi mượn xe mô tô biển số: 79F2-5632 của mẹ là bà Đặng Thị H1 để đi ăn tối. Bà H1 sợ S đem bán xe nên đòi đi cùng. S chở bà H1 đi lòng vòng, khi đến khu vực gần cầu Lùng, xã S, S dừng xe lại bên đường, lấy từ trong người ra một con dao đã chuẩn bị từ trước, cắt đoạn dây cáp điện thoại dài khoảng 12,5m, đường kính 2cm của Trung tâm V1 thòng gần mặt đất, bỏ lên xe mô tô. Bà H1 thấy vậy khuyên can S nhưng bị S chửi lại nên bà H1 không nói gì nữa. S điều khiển xe đi đến bãi xe gần đó rồi đốt dây cáp điện vừa trộm cắp được lấy được 4,4kg lõi đồng, cuộn tròn bỏ lên xe mô tô.
Sau đó, S tiếp tục chở bà H1 đến Nhà máy nước đá thuộc thôn P, xã S, cắt trộm tiếp 02 đoạn dây cáp điện thoại của Trung tâm V1 gồm: 01 sợi dây cáp màu đen bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ dài 3,28m, đường kính 3cm; 01 sợi dây cáp màu đen bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ dài 4,9m, đường kính 1,5cm, rồi đem 02 đoạn dây giấu ở bụi cây gần đó. S chuẩn bị leo lên cắt trộm tiếp thì lực lượng Công an xã S đi tuần tra phát hiện, đưa về trụ sở làm việc, thu giữ toàn bộ tang vật và xe mô tô.
Tại bản kết luận định giá số 49/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 sợi dây cáp màu đen bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ dài 3,28m, đường kính 3cm; 01 sợi dây cáp màu đen, bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ dài 4,9m, đường kính 1,5cm; 01 sợi dây cáp màu đen bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ dài 12,5m, đường kính 2cm: Có giá 2.214.030 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Trương Ngọc S chiếm đoạt là 7.569.030 đồng, Nguyễn Thanh T1 chiếm đoạt 5.355.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
+ Về vật chứng vụ án:
- 01 sợi dây cáp màu đen, dài 3,28m, đường kính 3cm, bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ; 01 sợi dây cáp màu đen dài 4,9m, đường kính 1,5cm, bên trong có nhiều lõi dây đồng nhỏ và các lõi dây đồng nhỏ được cuộn lại, kích thước (27x10)cm, trọng lượng 4,4 kg, đã trả lại cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra.
- 13,8 kg lõi dây đồng và dây nhôm, đã trả lại cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra.
- 01 con dao dài 32 cm, lưỡi kim loại bề rộng 6cm, cán gỗ, đang tạm giữ
- 01 xe máy màu nâu, biển số 79F2-5632, đang tạm giữ.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Viễn thông Khánh Hòa yêu cầu các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 liên đới bồi thường số tiền tại vụ trộm ngày 15/3/2023 là 5.355.000đ; yêu cầu bị cáo Trương Ngọc S bồi thường số tiền tại vụ trộm ngày 06/9/2023 là 2.214.030đ), các bị cáo chưa bồi thường.
Tại Cáo trạng số 17/CT–VKSDK ngày 25 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa truy tố các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1, áp dụng thêm điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Ngọc S: xử phạt bị cáo S từ 12 tháng đến 18 tháng tù; xử phạt bị cáo T1 từ 09 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 liên đới bồi thường số tiền tại vụ trộm ngày 15/3/2023 là 5.355.000đ; buộc bị cáo Trương Ngọc S bồi thường số tiền tại vụ trộm ngày 06/9/2023 là 2.214.030đ cho bị hại là V2; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 32cm, lưỡi kim loại rộng 6cm, cán gỗ; Tiếp tục giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D truy tìm chủ sở hữu đối với 01 xe máy màu nâu, biển số 79F2-5632; Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị H1 và người làm chứng là ông Trần Đỗ C vắng mặt, tuy nhiên, họ đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về tội danh:
Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản sự việc do Công an xã S, huyện D lập ngày 06/9/2023, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/9/2023 và biên bản sự việc do Công an thị trấn D lập ngày 16/3/2023, bằng những vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 00 ngày 15/3/2023, trên đường Đ, thuộc tổ dân phố P, thị trấn D, huyện D, Trương Ngọc S và Nguyễn Thanh T1 đã có hành vi cắt trộm 30m dây cáp treo có kích thước (200x2x0,5)m, trị giá 5.355.000 đồng của Viễn thông V2.
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06/9/2023, tại khu vực gần cầu L, thôn P, xã S, huyện D, Trương Ngọc S tiếp tục cắt trộm 3,28m dây cáp ngầm kích thước (300x2x0,4)m; 4,9m dây cáp treo kích thước (50x2x0,5)m và 12,5m cáp treo kích thước (100x2x0,5)m, tổng trị giá 2.214.030 đồng của Viễn thông V2.
Tổng giá trị tài sản Trương Ngọc S chiếm đoạt là 7.569.030 đồng, Nguyễn Thanh T1 chiếm đoạt là 5.355.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 17/CT-VKSDK ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của Viễn thông V2, gây mất trật tự trị an. Các bị cáo là những người nghiện ma túy, vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy nên đã thực hiện việc trộm cắp tài sản để bán lấy tiền. Bị cáo T1 có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về các tội xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường trật tự, kỉ cương của nhà nước, vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời bảo đảm tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ ngày 15/3/2023 đến ngày 06/9/2023, bị cáo S đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, mỗi lần trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo S bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ trộm cắp tài sản ngày 15/03/2023: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, hai bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ trước khi phạm tội. Bị cáo S là người chủ động rủ rê, chuẩn bị phương tiện, công cụ hỗ trợ và là người chở T1 đi tìm tài sản để trộm cắp, do đó, bị cáo S giữ vai trò cao và tích cực hơn bị cáo T1 trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, mức hình phạt đối với bị cáo S cần phải cao hơn mức án đối với bị cáo T1 mới thỏa đáng.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, Bị hại Viễn thông K yêu cầu các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 liên đới bồi thường số tiền tại vụ trộm ngày 15/3/2023 là 5.355.000đ; yêu cầu bị cáo Trương Ngọc S bồi thường số tiền tại vụ trộm ngày 06/9/2023 là 2.214.030đ). Các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Do đó, buộc các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1 liên đới bồi thường số tiền 5.355.000đ (mỗi bị cáo bồi thường số tiền 2.677.500đ) đối với vụ trộm ngày 15/3/2023; buộc bị cáo Trương Ngọc S bồi thường số tiền 2.214.030đ đối với vụ trộm ngày 06/9/2023. Như vậy, bị cáo T1 phải bồi thường số tiền là 2.677.500đ, bị cáo S phải bồi thường tổng số tiền là 4.891.530đ.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với các vật chứng đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp trong quá trình điều tra là đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xét gì thêm.
- Đối với các vật chứng đang tạm giữ gồm: 01 con dao dài 32 cm, lưỡi kim loại bề rộng 6cm, cán gỗ: Đây là công cụ, phương tiện liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- Đối với vật chứng 01 xe máy màu nâu, biển số 79F2-5632: Bà Đặng Thị H1 xác định bà đã mua lại xe này nhưng không có giấy tờ chứng minh. Qua kiểm tra thông tin dữ liệu đăng ký xe, xác định xe Prealmii, số máy FMH-Y0096830, số khung PR110-96830 do Võ Đông H4, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã S, D. Tuy nhiên, xác minh tại xã S, huyện D và xã S, huyện C, không có người tên Võ Đông H4 cư trú trên địa bàn. Như vậy, hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu đối với tài sản này, do đó, áp dụng Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh thông báo công khai trong thời hạn 01 năm để xác định chủ sở hữu đối với chiếc xe này; hết thời hạn thông báo theo quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định, trường hợp xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho họ.
[9] Đối với Trần Đỗ C: Khi được rủ đi đốt các đoạn dây cáp điện thoại lấy lõi đồng, C không biết rõ nguồn gốc của các đoạn dây cáp, do đó, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trần Đỗ C.
[10] Đối với hành vi mua lại các đoạn dây cáp vào tối ngày 15/3/2023 của bà Đặng Thị H1: Khi mua các đoạn dây cáp, bà H1 không biết rõ nguồn gốc tài sản, do đó, không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đặng Thị H1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[11] Đối với hành vi cùng đi với Trương Ngọc S vào tối ngày 06/9/2023 của bà Đặng Thị H1: Khi đi, S chỉ nói đi ăn tối, sau đó thấy S có hành vi trộm cắp, bà H1 đã lên tiếng can ngăn nhưng không được. Do đó, không có đủ cơ sở để xác định bà H1 đồng phạm với S về hành vi trộm cắp tài sản. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Bộ luật Hình sự, bà H1 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự.
[12] Về án phí:
Các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trương Ngọc S;
- Xử phạt bị cáo Trương Ngọc S 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thanh T1;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Khoản 2 Điều 357, các Điều 584, 587, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T1 phải bồi thường số tiền là 2.677.500đ và buộc bị cáo Trương Ngọc S phải bồi thường tổng số tiền là 4.891.530đ cho Viễn Thông Khánh H5.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 228 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao dài 32 cm, lưỡi kim loại bề rộng 6cm, cán gỗ:
- - Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh thông báo công khai trong thời hạn 01 năm để xác định chủ sở hữu đối với chiếc xe máy Prealmii, biển số 79F2-5632, số máy FMH-Y0096830, số khung PR110-96830; hết thời hạn thông báo theo quy định mà không xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định, trường hợp xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho họ.
- (Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh).
- Về án phí: Căn cứ Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Buộc các bị cáo Trương Ngọc S, Nguyễn Thanh T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Mai |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạt tù
