Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày 20/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Hoàng Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

ông Vũ Xuân Dự.

ông Trần Văn Nghi.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Phạm Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 20/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/HSST ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với:

- Bị cáo: Phạm Văn H, sinh năm 1990, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H1 và bà Lê Thị H2; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/02/2024, đến ngày 04/3/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay “có mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Trần Trung K, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

- Người làm chứng: anh Dương Văn H3, anh Phạm Văn K1 (vắng mặt).

- Người chứng kiến: anh Đặng Quốc H4, bà Nguyễn Thị N (vắng mặt); chị Lê Thị H2 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên chiều ngày 28/02/2024, Phạm Văn H điều khiển xe môtô BKS 36B5-985.09 từ nhà đến huyện K, tỉnh Ninh Bình. Khi đi đến đoạn cánh đồng thuộc xóm A, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình, H mua được 03 gói ma túy, loại Heroine với giá 600.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau đó, H cầm gói ma túy trong tay phải điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi được một đoạn nhưng vẫn thuộc xóm A, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình, thấy vắng người nên dừng xe để lấy ma túy ra sử dụng, thì bị tổ công tác Công an xã H và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Thu giữ của H 03 gói nhỏ gói bên ngoài bằng giấy dạng tờ lịch; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số “0967976240” và 01 xe môtô nhãn hiệu Sirius BKS 36B5-985.09.

Tiến hành mở niêm phong 03 gói nhỏ thu giữ của C bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng là 0,3759 gam ký hiệu M, gửi trưng cầu giám định.

Kết luận giám định số 290/KL-KTHS-MT ngày 04/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh N: “Kết luận mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi đi giám định ký hiệu M có khối lượng: 0,3759 gam; là ma túy, loại Heroine”.

Heroine (H5) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 30/5/2024 VKSND huyện K truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện K vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/02/2024.

Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín mép, trên mặt phong bì ghi số 290/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M bên trong có 0,3299 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì ký hiệu H bên trong có 03 mảnh giấy dạng tờ lịch và vỏ phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn H; 01 vỏ phong bì ký hiệu ĐT sử dụng để niêm phong điện thoại khi thu giữ của Phạm Văn H và vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Trả lại cho Phạm Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0967976240 nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi nêu trên. Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, tội danh và điều luật áp dụng: tại phiên tòa bị cáo khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên chiều ngày 28/02/2024, bị cáo mượn xe môtô của anh Trần Trung K (là người cùng xã với bị cáo) đi từ nhà ra huyện K để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực thuộc xóm A, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình mua được 03 gói ma túy loại Heroine với giá 600.000 đồng của một người đàn ông không quen biết. Sau đó, bị cáo cầm gói ma túy đi tìm nơi sử dụng, khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, cũng tại xóm A, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình khi bị cáo đang chuẩn bị lấy ma túy ra để sử dụng thì bị tổ công tác Công an tỉnh N và Công an xã H, huyện K phát hiện bắt quả tang, thu giữ của bị cáo 03 gói ma túy mà bị cáo vừa mua; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 xe môtô. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, Biên bản cân xác định khối lượng, Kết luận giám định gói bột thu giữ của bị cáo và lời khai của người làm chứng đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép 0,3759 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: không.

Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi đối chiếu về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nguyên nhân và điều kiện phạm tội của bị cáo, thì hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật bằng hình thức cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về nguồn gốc số ma túy loại Heroine: bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực xóm A, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình, bị cáo không quen biết người đó, có gặp lại cũng không nhận dạng được. Vì vậy, cơ quan điều tra Công an huyện K không đủ cơ sở để điều tra.

[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với 01 xe môtô BKS 36B5-985.09 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định chiếc xe nói trên là tài sản của anh Trần Trung K, sinh năm 1984; trú tại: thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (là bạn cùng xã với bị cáo). Anh K không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe nói trên cho anh K là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0967976240, là tài sản của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 phong bì niêm phong dán kín mép, trên mặt phong bì ghi số 290/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M bên trong có 0,3299 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì ký hiệu H bên trong có 03 mảnh giấy dạng tờ lịch và vỏ phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn H; 01 vỏ phong bì ký hiệu ĐT sử dụng để niêm phong điện thoại khi thu giữ của Phạm Văn H và vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Đây là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.

[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 28/02/2024.

2. Về xử lý vật chứng: tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín mép, trên mặt phong bì ghi số 290/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu M bên trong có 0,3299 gam Heroine và toàn bộ vỏ giấy gói niêm phong ban đầu, 01 phong bì ký hiệu H bên trong có 03 mảnh giấy dạng tờ lịch và vỏ phong bì niêm phong gói nhỏ khi thu giữ của Phạm Văn H; 01 vỏ phong bì ký hiệu ĐT sử dụng để niêm phong điện thoại khi thu giữ của Phạm Văn H và vỏ phong bì niêm phong ban đầu.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp sim số 0967976240, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Chi tiết vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03/6/2024 giữa cơ quan CSĐT công an huyện K với Chi cục THADS huyện K)

3. Về án phí: buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện K;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện K;
  • - THADS huyện K;
  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Ngọc Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger