Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH GIANG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Duy Tuần

Ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 16/09/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 15/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/9/2024, đối với:

Bị cáo: Phạm Phú T, sinh năm 1977 tại Hải Dương; trú tại: Thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Phú T1 và con bà Phạm Thị L (Đã chết); Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc số 10/2022/QĐ-TA ngày 02/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, thời gian chấp hành tại cơ sở G bắt buộc là 12 tháng. Chấp hành xong ngày 07/12/2023.

Nhân thân:

  • Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2014/HSST ngày 20/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, xử phạt 27 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/12/2015. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 23/4/2014.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 69 ngày 18/5/2017 của Công an huyện G xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 128/QĐ- XPVPHC ngày 10/6/2017 của Công an huyện N xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành 19/6/2017.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 88 ngày 11/7/2017 của Công an huyện G xử phạt 800.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 01/ QĐ- UBND ngày 04/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã K, về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian áp dụng 06 tháng kể từ ngày 04/5/2018. Ngày 17/7/2018 chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 131/QĐ-XPVPHC ngày 25/6/2018 của Công an huyện N xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 05/2018/QĐ-TA ngày 14/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng. Chấp hành xong ngày 12/10/2020.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 158/ QĐ- XPVPHC ngày 28/9/2018 của Công an huyện N, xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ- XPVPHC ngày 15/12/2021 của Công an xã K, xử phạt 750.000 đồng về hành vi Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng.
  • Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ- XPVPHC ngày 24/12/2021 của Công an xã K, xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng.
  • Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 153/QĐ- UBND ngày 26/4/2022 của Ủy ban nhân dân xã K, về hành vi Say rượu gây mất trật tự công cộng, thời gian áp dụng 03 tháng kể từ ngày 26/4/2022 đến ngày 26/7/2022 ;

Bị cáo bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 04/6/2024 cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Phạm Thanh T2, sinh năm 1981, Địa chỉ: Ngõ I, phố C, phường T, thành phố H (Có mặt)

Người làm chứng: Chị Bùi Thị K, sinh năm 1976 (Vắng mặt); ông Cao Văn T3, sinh năm 1962 (Có mặt); anh Phạm Phú T4, sinh năm 1984(Vắng mặt); anh Đinh Thế T5, sinh năm 1982 (Có mặt)

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, Phạm Phú T ra cổng làng thôn N, xã K, huyện N chơi pháo đất và gặp anh Phạm Thanh T2. Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh T2 chửi “Đ.M mày sao hôm qua mày chửi bố mẹ tao” (trước đó ngày 28/4/2024 T chửi anh trai T2Phạm Thanh C ở cùng thôn). Khi bị chửi T nói “mẹ tao đã chết rồi mày đừng chửi, chửi câu nữa là tao ném cái xuyến vào mặt”. Sau đó cả hai tiếp tục chửi nhau thì được mọi người can ngăn. Do bực tức vì bị anh T2 chửi, T dùng tay phải cầm xuyến pha chè bằng sứ màu trắng (để ở bàn uống nước từ trước) ném vào vùng mặt của anh T2, xuyến nước rơi xuống đất bị vỡ. Ngay sau đó Công an xã K, huyện N đã tiến hành xác minh vụ việc, quản lý được 15 mảnh vỡ bằng sứ màu trắng. Anh T2 bị thương phải đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh H điều trị từ ngày 30/4/2024 đến ngày 04/5/2024.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 169/ KLTTCT ngày 30/5/2024 của trung tâm pháp y tỉnh H đối với anh Phạm Thanh T2: Chấn thương mặt gây gãy xương gò má trái, thành ngoài ổ mắt trái, được điều trị nội khoa, hiện ổn định; 03 sẹo vết thương phần mềm vùng cung lông mày trái, mặt trước vành tai kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phạm Thanh T2 tại thời điểm giám định là 15%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra, anh T2 bị người khác dùng cái xuyến pha chè như công an huyện N mô tả ném vỡ, gây ra là phù hợp.

Cáo trạng số 33/CT-VKSNG ngày 14/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, nhất trí bồi thường thiệt hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 ; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Phạm Phú T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt Phạm Phú T từ 27 đến 30 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Xử buộc bị cáo Phạm Phú T bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Thanh T2 số tiền 6.615.000 đồng. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 15 mảnh sứ màu trắng. Về án phí: Bị cáo Phạm Phú T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 330.000 đồng án phí về việc bồi thường dân sự. Bị cáo,bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Người làm chứng Bùi Thị KPhạm Phú T4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, HĐXX xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị hại người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 29/4/2024 tại cổng làng thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương, do bực tức vì bị anh Phạm Thanh T2 chửi, Phạm Phú T dùng tay phải cầm xuyến pha chè bằng sứ màu trắng (để ở bàn uống nước từ trước) ném vào vùng mặt của anh T2 làm anh T2 bị tổn thương cơ thể 15%. Do sử dụng xuyến pha chè bằng sứ là phương tiện nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

[4] Xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ sức khỏe của người khác là bất khả xâm phạm được pháp luật bảo vệ, song vì mâu thuẫn bực tức nhất thời bị cáo đã đánh bị hại gây ra thương tích nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra.

[5] Bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nguyên nhân xảy ra sự việc gây thương tích có một phần lỗi của bị hại do đã chửi bị cáo trước; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố đẻ bị cáo là thương binh, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba - do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về việc quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe tổng số tiền 6.615.000 đồng, bao gồm: 365.000 đồng tiền viện phí; 2.000.000 đồng tiền mua thuốc ngoài để điều trị; 750.000 đồng tiền ăn 5 ngày ở bệnh viện; 2.000.000 đồng mất thu nhập; 1.500.000 đồng tiền công và ăn uống của người chăm sóc tại bệnh viện. Xét thấy yêu cầu đòi bồi thường của bị hại là phù hợp với pháp luật, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền nêu trên, do đó HĐXX buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 6.615.000 đồng.

[8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ 15 mảnh sứ màu trắng, cần tịch thu và tiêu hủy.

[9] Đối với hành vi của Phạm Thanh T2 chửi Phạm Phú T và hành vi của Phạm Phú T chửi anh Phạm Thanh C đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định số 144 ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Công an huyện N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thanh T2, Phạm Phú T là đúng quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 ; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  2. Về tội danh: Tuyên bố Phạm Phú T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  3. Về hình phạt: Xử phạt Phạm Phú T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (04/6/2024)
  4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự. Xử buộc bị cáo Phạm Phú T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phạm Thanh T2 số tiền 6.615.000 (Sáu triệu, sáu trăm mười lăm ngàn đồng).
  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 15 mảnh sứ màu trắng. (Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, có đặc điểm như ghi tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/4/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang).
  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Phú T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 330.000 đồng án phí về việc bồi thường dân sự.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Duy Tuần

Nguyễn Đức Anh

Hà Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 33/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger