|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HS-ST
Ngày 13 - 6 -2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Hồng Thái
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hương
- 2. Bà Nguyễn Thị Hoài Linh
- - Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thúy Vi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Ngô Lê Phương- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30 /2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với:
I. Các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam;
Sinh ngày 19/8/1968; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T1 (đã chết). Gia đình có 08 anh chị, bị cáo là con thứ tám trong gia đình; Vợ, con: Không có.
- - Tiền án, tiền sự: Không;
- - Nhân thân: 3
- + Tại Bản án số: 58/1996/HSST ngày 23/7/1996, Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Huỷ hoại tài sản của công dân”. Chấp hành xong Bản án tháng 9 năm 1996.
- + Tại Bản án số: 65/1998/HSST ngày 16/5/1998, Toà án nhân dân huyện Đ xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong Bản án ngày 30/4/2000.
- + Tại Quyết định số 3567 ngày 29/12/2003, UBND tỉnh T áp dụng đưa vào
Cơ sở giáo dục về hành vi “Trộm cắp tài sản” trong thời hạn 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa.)
2. Họ và tên: Triệu Văn X, tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam; Sinh ngày: 28/9/1963; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm D, xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Triệu Viết P (đã chết); Con bà: Hà Thị D (đã chết); Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tám trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1967; Con: Có 02 con (Con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990);
- - Tiền án: 01
- + Tại Bản án số: 66/HSST ngày 21/8/1996 của Tòa án nhân dân huyện Pg xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc – Tổ chức đánh bạc”. (Chưa chấp hành xong khoản tiền 200.000 đồng sung quỹ nhà nước)
- - Tiền sự: Không
- - Nhân thân: 01
- + Tại Bản án số: 12/2008/HSST ngày 04/3/2008 Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 03 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong Bản án ngày 28/4/2010.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa.)
3. Họ và tên: Trần Tiến D1,tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/4/1969; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Quang C (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1942; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình;Vợ: Hà Thị X1, sinh năm:1968; Con: có 02 (con lớn sinh năm 1991; con nhỏ sinh năm 2005);
- - Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa.)
4. Họ và tên: Nông Văn V, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 13/9/1971; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm X, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày;Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 05/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Nông Văn H (đã chết);Con bà: Nguyễn Thị N1 (đã chết); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Vợ: Nông Thị T2, sinh năm: 1973; Con: có 02 con (Con lớn sinh năm
1996, con nhỏ sinh năm 1998);
- - Tiền án, tiền sự: Không;
- - Nhân thân: Tại Bản án số 94/2011/HSST ngày 26/10/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc. Chấp hành xong Bản án ngày 22/5/2015.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.
(Có mặt tại phiên tòa.)
II. Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T cử:
1. Ông Đào Anh T3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T.
(Có mặt tại phiên tòa.)
III. Người chứng kiến:
1. Ông Phạm Ngọc Q, sinh năm 1973;
Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 ngày 30/01/2024, tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang tại nhà của Nguyễn Văn T ở xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên các đối tượng gồm: Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V đang đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền.
Vật chứng thu giữ gồm:
01 chiếu màu xanh, kích thước (1,8x2)m; 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; Số tiền: 5.320.000đ (Năm triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng); Thu giữ trên người Vĩnh: 01 ví màu nâu, bên trong có số tiền 4.215.000₫ (Bốn triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng); thu trên người D1: 01 ví màu đen bên trong có số tiền 610.000đ (Sáu trăm mười nghìn đồng); thu giữ trên chiếu trước mặt X 01 ví màu đen bên trong có 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng); thu giữ trên chiếu trước mặt T 01 ví màu đen bên trong có số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền trong ví các đối tượng là 6.525.000đ (Sáu triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, D1, V và X, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 30/01/2024, tại nhà của Nguyễn Văn T sau khi ăn cơm, T nói với V, X và D1: “Anh em làm tí” (Tức là rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền) thì V, X và D1 đồng ý. Các đối tượng thống nhất hình thức đánh bạc như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài
có số từ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và ký tự J, Q, K và A (át), phân biệt bằng chất Rô, C2, B, T4; trong mỗi ván chơi, mỗi người được chia 09 quân bài, người chia bài được chia 10 quân bài, quy ước phỏm có từ 03 đến 04 quân bài có số hoặc ký tự giống nhau và phỏm có tối thiểu từ 03 quân bài trở lên cùng chất liên tiếp nhau. Người chia bài được đánh đầu tiên theo thứ tự từ trái qua phải, người chơi sẽ đánh ra 01 quân bài cho người chơi ngồi kế tiếp bên phải, khi đó người chơi ngồi kế tiếp bên phải đối chiếu quân bài đánh với 09 quân bài đang cầm, khi quân bài đánh có số hoặc ký tự trùng với 02 hoặc 03 quân bài đang cầm được ăn quân bài đánh tạo thành phỏm; hoặc quân bài đánh có chất trùng với từ 02 quân bài trở lên cùng chất liền tiếp cầm trên tay được ăn tạo thành phỏm; trường hợp quân bài đánh đối chiếu không tạo thành phỏm, khi đó người chơi lấy 01 quân bài dưới lọc rồi tiếp tục đánh 01 quân bài cho người chơi ngồi kế tiếp bên phải; người chơi nào ăn được quân bài đánh trước khi kết thúc lượt đánh cuối cùng của mình được tính là ăn chốt, người bị ăn chốt phải trả số tiền 40.000đ cho người được ăn chốt. Sau khi đánh hết số bài dưới lọc sẽ hạ phỏm và tính điểm, trường hợp ù được xác định khi có 09 quân bài đang cầm tạo thành 03 phỏm hoặc 02 phỏm (trong đó có 01 phỏm là từ 03 đến 04 quân bài có số hoặc ký tự giống nhau và 01 phỏm có từ 05 đến 06 quân bài cùng chất liên tiếp nhau) được thu tiền của 03 người chơi. Trong ván bài tính điểm tối thiểu có 01 người chơi có 01 phỏm, trường hợp không có người chơi ù sẽ tính điểm, người chơi cộng các quân bài không tạo thành phỏm để tính điểm, người nào có số điểm ít nhất sẽ thắng 03 người chơi, trường hợp 02 người chơi trở lên có tổng số điểm bằng nhau thì người nào hạ bài trước sẽ thắng người còn lại; cách tính điểm quy định: cộng số của các quân bài với nhau, quân J được tính là 11 điểm, quân Q được tính là 12 điểm, quân K được tính là 13 điểm, quân A (át) được tính là 01 điểm; trường hợp 09 quân bài không tạo thành phỏm được tính là móm. Quy định về tiền cá cược: Người nào được ít điểm nhất sẽ thu tiền của 03 người chơi, người chơi về nhì nộp số tiền 10.000₫ (mười nghìn đồng), người về ba nộp số tiền 20.000đ (hai mươi nghìn đồng), người chơi có điểm cao nhất nộp số tiền 30.000đ (ba mươi nghìn đồng), người chơi không có phỏm nộp số tiền 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng) cho người thắng ván bài đó; khi ván bài có người ù, mỗi người chơi trả cho người ù với số tiền là 50.000đ (năm mươi nghìn đồng), người nào thắng ván bài trước được chia bài ván tiếp theo.
T lấy bộ tú lơ khơ (T mua từ trước để trong nhà) để xuống dưới chiếu sau đó D1 cầm bộ bài chia cho mọi người tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền. Khi đánh bạc T khai sử dụng số tiền khoảng 700.000₫ (bảy trăm nghìn đồng), X khai sử dụng số tiền khoảng 1.750.000đ (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng); D1 khai sử dụng số tiền khoảng 1.210.000đ (một triệu hai trăm mười nghìn đồng); V khai sử dụng số tiền khoảng 4.600.000đ (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) để đánh bạc.Các đối tượng tham gia đánh bạc đến
khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Quá trình điều tra, các bị cáo đều xác định số tiền 11.845.000 đồng (thu giữ tại chiếu bạc và trong ví của các bị cáo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 11.845.000 đồng (Mười một triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2; 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu màu xanh, kích thước (1,8x2)m; 03 ví màu đen, 01 ví màu nâu; Hiện số vật chứng trên được bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKSÐ, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố để xét xử đối với các bị cáo: Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử Tuyên bố: Các bị cáo: Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo: Nguyễn Văn T, Triệu Văn X và Nông Văn V được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Trần Tiến D1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Triệu Văn X phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nông Văn V và Trần Tiến D1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
a, Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 9 đến 12 tháng tù.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Triệu Văn X từ 9 đến 12 tháng tù.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Trần Tiến D1 từ 6 đến 9 tháng tù.
- - Áp dụng Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo: Nông Văn V từ 7 đến 10 tháng tù.
- * Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, không có
thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
b) Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
- - Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền: 11.845.000đ tiền Ngân hàng N2.
- - Tịch thu tiêu hủy: 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu màu xanh, kích thước (1,8x2)m; 03 ví màu đen, 01 ví màu nâu;
Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên chờ xử lý.
c, Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Buộc các bị cáo Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát trình bày bản luận tội, ông Đào Anh T3 là Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T phát biểu luận cứ như sau: Về trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đối với bị cáo Nguyễn Văn T về hành: “Đánh bạc” theo Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: “Người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải”. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS. Tại phiên tòa hôm nay, căn cứ vào lời khai của bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý với quan điểm và đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo, gia đình có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, bản thân bị cáo mắc HIV lại ở một mình không có người chăm sóc khi ốm đau nên xin Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét giảm hình phạt cho bị cáo để bị cáo T sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Các bị cáo: Nguyễn Văn T, Triệu Văn X, Trần Tiến D1, Nông Văn V nhất trí với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đề nghị, không ai có ý kiến tranh luận gì. Trong phần lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không yêu cầu được nhờ người bào chữa, tuy nhiên bị cáo Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo, bị nhiễm HIV nên bị cáo là đối tượng được trợ giúp pháp lý, tại cơ quan điều tra bị cáo T đã được giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí, cơ quan điều tra đã thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T và Trung tâm đã cử ông Đào Anh T3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T tham gia bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/01/2024, tại nhà của Nguyễn Văn T ở xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V đang đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng để đánh bạc là 11.845.000 đồng (Mười một triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cùng các vật chứng khác liên quan. Trong vụ án này, các bị cáo có vai trò như nhau, cùng là người thực hành. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ. Số tiền 11.845.000 đồng (thu giữ tại chiếu bạc và trong ví của các bị cáo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực hành vi dân sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền của các bị cáo cấu thành tội: “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy việc truy tố để xét xử đối với các bị cáo: Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[3]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy:
Đây là vụ án mà các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, phân công thực hiện hành vi phạm tội từ trước. Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T tham gia vụ án với vai trò tích cực, là người chuẩn bị công cụ cho các bị cáo khác đánh bạc. Các bị cáo đều cùng nhau trực tiếp tham gia đánh bạc với vai trò đồng phạm như nhau trong vụ án.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
- - Bị cáo Nguyễn Văn T được xác định là không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân rất xấu, đã từng 02 lần bị TAND huyện Đ xét xử về tội “ Hủy hoại tài sản công dân và “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Năm 2003 bị UBND tỉnh T đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng về hành vi “ Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .
- - Bị cáo Triệu Văn X: Tiền sự không có nhưng nhân thân xấu, năm 2008 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử 03 năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo chấp hành xong ngày 28/4/2010. Bị cáo có 01 tiền án: ngày 21/8/1996 bị Tòa án nhân dân huyện P xử phạt 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc – Tổ chức đánh bạc”. (khi phạm tội lần này, bị cáo chưa chấp hành xong khoản tiền 200.000 đồng sung quỹ nhà nước) như vậy bị cáo đã có tiền án về cùng loại tội chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Bị cáo Nông Văn V được xác định là không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, ngày 26/10/2011 đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “ Đánh bạc” chấp hành xong ngày 22/5/2015. Bị cáo đã từng bị xét xử về cùng loại tội nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .
- - Bị cáo Trần Tiến D1 không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội
lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị cáo còn quanh co không thành khẩn khai báo về thời gian, mục đích bị cáo đến nhà bị cáo T, bị cáo khai mục đích đến nhà bị cáo T là để mua gà, Hội đồng xét xử phải đối chất lời khai của bị cáo với bị cáo T lúc đó bị cáo mới thành khẩn khai nhận về mục đích bị cáo đến nhà bị cáo T là để đánh bạc, bị cáo mang theo 1.210.000 đồng, bị cáo bỏ ra 600.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại (610.000 đồng) bị cáo để trong ví màu đen trong túi áo ngực bên trái bị cáo đang mặc, nếu sử dụng hết số tiền 600.000 đồng thì bị cáo sẽ tiếp tục sử dụng số tiền còn lại(610.000 đồng) trong ví để đánh bạc, mục đích bị cáo đánh bạc là để thắng tiền của những người chơi khác, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị C1 được Hội đồng nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5]. Về hình phạt: Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo để xem xét quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đối với các bị cáo Triệu Văn X: có 01 tiền án, có nhân thân xấu, Năm 1996 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử về cùng loại tội đánh bạc nhưng chưa chấp hành xong khoản tiền phạt, mà nay lại tiếp tục phạm tội.
Bị cáo Nông Văn V được xác định là không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, năm 2011 bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ xét xử về tội “ Đánh bạc” nay lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo Triệu Văn X, Nông Văn V ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét giảm một phần hình phạt tù cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo Trần Tiến D1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa lúc đầu bị cáo còn quanh co chưa thực sự khai nhận về hành vi phạm tội của mình giống như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hội đồng xét xử phải đấu tranh làm rõ hành vi của bị cáo, cho đối chất lời khai của bị cáo với lời khai của bị cáo khác lúc đó bị cáo mới thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như lời khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo có đơn xin giảm án, cải tạo tại địa phương, nội dung trong đơn bị cáo
trình bày về hành vi của bị cáo là đánh phỏm tại nhà anh T, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, đang bệnh nặng bị cáo phải chăm sóc mẹ. Đơn xin giảm án của bị cáo gửi không có chứng cứ kèm theo về bệnh án của mẹ, không có cam kết thực hiện trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ thực hiện nội quy, quy chế của công dân nơi cư trú được chính quyền địa phương xác nhận, đề nghị mà chính quyền chỉ xác nhận bị cáo có hộ khẩu thường trú tại địa phương.
Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm thu lời bất chính, trong số các bị cáo có bị cáo Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo, bản thân bị mắc HIV, ở một mình, các bị cáo trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
[6]. Vật chứng của vụ án:
- + Đối với số tiền 11.845.000 đồng thu tại nơi đánh bạc là tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.
- + Đối với 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu màu xanh, kích thước (1,8x2)m; 03 ví màu đen, 01 ví màu nâu là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và liên quan đến tội phạm, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Buộc các bị cáo Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,
1. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo: Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
2. Về hình phạt:
2.1 Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự,
Xử phạt Bị cáo: Nguyễn Văn T 09(chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2.2 Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Bị cáo: Triệu Văn X 09 ( Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2.3 Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự,
Xử phạt Bị cáo: Nông Văn V 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2.4 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự,
Xử phạt Bị cáo: Trần Tiến D1 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 11.845.000đồng (Mười một triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N2 đã được chuyển khoản.
- + Tịch thu tiêu hủy: 52 (năm mươi hai) quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chiếu màu xanh, kích thước (1,8x2)m; 03 ví màu đen, 01 ví màu nâu
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 5. năm 2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Uỷ nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử ngày 17 tháng 5. năm 2024 giữa Công an huyện Đ, Kho bạc nhà nước huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).
4.Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc các bị cáo Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về đánh bạc
- Số bản án: 33/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 30/01/2024, tại nhà của Nguyễn Văn T ở xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T; Triệu Văn X; Trần Tiến D1 và Nông Văn V đang đánh bạc bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ số tiền dùng để đánh bạc là 11.845.000 đồng (Mười một triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) cùng các vật chứng khác liên quan.
