|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 33/2024/HS-PT Ngày 13 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Nguyễn Viết Anh; |
Các thẩm phán: |
Ông Nguyễn Hà Giang; |
Ông Bùi Xuân Trường. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Lê Minh S đối với Bản án hình sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ tên: LÊ MINH SƠN; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26 tháng 11 năm 1983 tại C, Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Cán bộ Phòng T1 thuộc UBND huyện C; Trình độ học vấn: 12/12; Bị cáo là Đảng viên Đ2, sinh hoạt tại Chi bộ Phòng T1 thuộc Đảng bộ Khối Chính quyền huyện C. Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng kể từ ngày 13/11/2023 theo quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 121– QĐ/UBKTHU, ngày 10/11/2023 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy C, tỉnh Phú Thọ; Bố đẻ: Lê Văn C, sinh năm 1942, cán bộ hưu trí hiện ở xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị M (đã chết); Vợ: Bùi Thị Thanh H, sinh năm 1986, là nhân viên y tế hiện ở thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Con: Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện nay, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(Có mặt)
Các bị cáo không có kháng cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2021, thực hiện chủ trương đầu tư, xây dựng, đảm bảo cho việc xét duyệt, công nhận xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ đạt tiêu chí nông thôn mới và cần kinh phí để thực hiện. Do vậy Tống Quang L, sinh năm 1966 ở khu S, xã H, huyện C, tỉnh Phú Thọ (lúc này đang là Chủ tịch UBND xã H) chỉ đạo Nguyễn Mỹ H1, sinh năm 1978 ở khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (lúc này đang là Kế toán UBND xã H) rút tiền ngân sách của xã thông qua việc lập hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung xã H. Để lập được hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung L đã bàn với H1 phải tìm công ty có đủ năng lực để làm hồ sơ xây dựng hoàn chỉnh với mục đích thanh quyết toán với kho bạc nhà nước huyện C nhằm rút tiền ngân sách của xã tại kho bạc. Do quen biết nhau từ trước nên H1 đã liên lạc với Lê Minh S, sinh năm 1983 ở khu Đ, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (lúc này là cán bộ Phòng Kinh tế - Hạ tầng thuộc UBND huyện C) và S cũng là người điều hành Công ty TNHH T2 (do ông Bùi Việt H2, sinh năm 1961 ở khu P, xã H, huyện C – bố vợ của S làm giám đốc) và nhờ S làm hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung xã H, S đồng ý. Song song với việc chọn đơn vị xây dựng để lập hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung xã H, Tống Quang L đã thuê ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1963 ở khu R, xã H (là người dân địa phương) xây dựng tường bao quanh theo mô hình bãi rác tại khu Đ, khu S, xã H, nhằm qua mặt cơ quan thẩm định.
Vào khoảng cuối tháng 5 năm 2021, sau khi đồng ý làm hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung Lê Minh S vào UBND xã H để gặp Tống Quang L và Nguyễn Mỹ H1 để bàn bạc cụ thể. Tại UBND xã H, Tống Quang L đã chỉ đạo anh Nguyễn Trung K là Phó chủ tịch xã H đưa S lên địa điểm đang xây dựng bãi rác thải tập trung thuộc khu Đ, khu S, xã H để S vẽ sơ bộ thiết kế xây dựng bãi rác. Vào khoảng đầu tháng 6 năm 2021 Lê Minh S mang bản thiết kế sơ bộ vào UBND xã H, tại phòng làm việc của Tống Quang L gồm có S, L và H1. Tại đây L đã yêu cầu S sẽ làm hồ sơ xây dựng khống công trình bãi rác thải tập trung xã H nhằm mục đích để UBND xã H quyết toán và rút tiền ngân sách của xã tại Kho bạc nhà nước huyện C, S đồng ý. S yêu cầu L chia tỷ lệ phần trăm đối với công trình bãi rác cụ thể: công ty TNHH T2 (viết tắt là Công ty T2) sẽ lấy 25% tổng giá trị công trình và UBND xã H lấy 75% tổng giá trị công trình, L đồng ý. Sau đó S tiến hành lập hồ sơ xây dựng khống công trình xây dựng bãi rác thải tập trung với nội dung: UBND xã H là chủ đầu tư xây dựng công trình Bãi rác thải tập trung xã H, đơn vị thi công xây dựng là Công ty T2. Tuy nhiên Công ty T2, không thi công bất cứ một hạng mục xây dựng nào liên quan đến công trình xây dựng bãi rác thải tập trung xã H.
Để hoàn thiện bộ hồ sơ xây dựng công trình bãi rác thải tập trung xã H phải cần Công ty tư vấn khảo sát thiết kế và tư vấn giám sát độc lập. Nên Lê Minh S đã nhờ Phạm Hồng H3, sinh năm 1981 ở phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (là cán bộ Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực huyện C), là người điều hành Công ty cổ phần T3 (gọi tắt là Công ty T3 do ông Phạm Hồng S1, sinh năm 1951 ở khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ – bố đẻ của H3 làm giám đốc) lập khống hồ sơ tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn giám sát thi công và ký xác nhận các tài liệu liên quan đến công trình Bãi rác thải tập trung xã H, Phạm Hồng H3 đồng ý. Phạm Hồng H3 đã lập hồ sơ khống đối với phần tư vấn khảo sát và tư vấn giám sát đối với công trình xây dựng bãi rác thải tập trung xã H tại khu Đ thuộc khu S, xã H. Tuy nhiên Công ty T3 do Phạm Hồng H3 điều hành không thực hiện việc giám sát công trình xây dựng trên thực tế.
Việc lập khống hồ sơ xây dựng Bãi rác thải tập trung xã H được thực hiện như sau:
Hồ sơ xây dựng công trình Bãi rác thải tập trung xã H gồm:
- + Quyết định phê duyệt chỉ định đơn vị thực hiện gói thầu số 3 đề ngày 16/6/2021 của UBND xã H; Quyết định giao bổ sung dự toán thu chi đầu năm 2021 số: 45 ngày 20/7/2021 của UBND xã H; Quyết định giao bổ sung dự toán chi đầu năm và kế hoạch đầu tư vốn ngân sách năm 2022 lập ngày 18/10/2022 của UBND xã H; Quyết định về việc phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng công trình bãi rác thải tập trung xã H số: 30/QĐ-UBND xã ngày 14/6/2021 của UBND xã H; Quyết định phê duyệt thành viên tham gia trực tiếp quản lý dự án công trình số: 17/QĐ-UBND ngày 15/3/2021 của UBND xã H; Công văn số: 29/CV ngày 17/8/2021 của UBND xã H.
- + Hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình bãi rác thải tập trung xã H số 13/2021/TVTK đề ngày 29/3/2021, giữa UBND xã H và Công ty cổ phần T3; Hợp đồng thi công xây dựng số 18/2021 và phụ lục hợp đồng đề ngày 16/6/2021 giữa UBND xã H và Công ty TNHH T2; Báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình bãi rác thải xã H năm 2021; Hợp đồng điều chỉnh bổ sung lần thứ 1 số: 01/2022/HĐTVGS-ĐC giữa UBND xã H và Công ty cổ phần T3; Hợp đồng số: 23/2021/HĐ-TVGS lập ngày 16/6/2021 giữa UBND xã H và Công ty cổ phần T3; Công văn số: 40/QĐGS-FDI ngày 16/6/2021 thành lập tổ tư vấn giám sát của Công ty cổ phần T3.
- + Biên bản bàn giao mặt bằng, mốc giới thi công xây dựng tại hiện trường đề ngày 16/6/2021; Bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành đề ngày 16/7/2021; Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành đề ngày 16/7/2021; Bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng đề ngày 17/7/2021; Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành lập ngày 22/7/2023 của hợp đồng số 18/2021 giá trị 235.000.000đ; Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư lập ngày 28/7/2021 thanh toán 235.000.000đ; Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành công trình đề ngày 25/7/2021; Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình đưa vào sử dụng đề ngày 25/7/2021; Giấy đề nghị thanh toán vốn lập ngày 02/11/2022 thanh toán 63.536.000đ; Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng số: 18/2021 đề ngày 16/6/2021, tổng giá trị thanh toán 298.536.000đ; Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành đề ngày 16/7/2021; Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành đề ngày 16/7/2021; Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng số: 01/NTTL đề ngày 17/7/2021.
Việc soạn thảo, lập hồ sơ được thực hiện như sau:
- + Đối với Hợp đồng tư vấn khảo sát, lập Báo cáo kinh tế - Kỹ thuật công trình giữa UBND xã H và Công ty cổ phần T3, Báo cáo kinh tế - Kỹ thuật công trình của Công ty cổ phần T3 do Phạm Hồng H3 soạn thảo, đưa cho Lê Minh S.
- + Đối với Hợp đồng thi công xây dựng giữa Công ty TNHH T2 và UBND xã H, các Bảng giá trị xác định khối lượng công việc hoàn thành do Lê Minh S nhờ anh Mai Văn V, sinh năm 1990 ở khu Q, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ – Cán bộ Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực huyện C soạn thảo.
- + Đối với Hồ sơ quản lý chất lượng gồm Nhật ký thi công, bản vẽ hoàn công, các biên bản nghiệm thu và một số tài liệu đề nghị quyết toán do Lê Minh S nhờ anh Mai Văn V soạn thảo.
- + Đối với Hợp đồng tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình giữa Công ty cổ phần T3 và UBND xã H do Phạm Hồng H3 soạn thảo. Hợp đồng điều chỉnh, bổ sung giữa Công ty cổ phần T3 và UBND xã H do Lê Minh S soạn thảo, đưa cho Phạm Hồng H3.
- + Hồ sơ quyết toán giữa UBND xã H và Công ty TNHH T2,Công ty cổ phần T3 gồm các tài liệu do Lê Minh S, Phạm Hồng H3 và Nguyễn Mỹ H1 kế toán UBND xã H soạn thảo.
Toàn bộ các tài liệu liên quan đến việc thi công xây dựng của Công ty TNHH T2, Lê Minh S đã đưa cho ông Bùi Việt H2 ký đại diện Công ty TNHH T2. Do tin tưởng con rể nói là công trình được thi công đầy đủ, đúng nên ông H2 đã ký. Đồng thời, Lê Minh S nhờ anh Mai Văn V ký xác nhận vào mục cán bộ thi công. Khi đưa anh V ký, S không nói cho anh V biết đây là hồ sơ khống để rút tiền ngân sách, mà nói với anh V, công trình đã thi công xong, nhờ anh V ký để hoàn thiện hồ sơ xây dựng. Anh V có vào xã H thấy có người đang xây dựng nên anh V đã ký giúp S.
Toàn bộ các tài liệu liên quan đến việc tư vấn khảo sát thiết kế, tư vấn giám sát thi công của Công ty cổ phần T3, Phạm Hồng H3 đã ký giả chữ ký của ông Phạm Hồng S1 (là giám đốc Công ty cổ phần T3) tại mục đại diện Công ty cổ phần T3. Đồng thời, Phạm Hồng H3 nhờ anh Vi Ngọc T, sinh năm 1990 ở khu X, xã Đ, huyện C, tỉnh Phú Thọ - Giám sát viên thuộc Công ty cổ phần T3 ký vào mục cán bộ tư vấn giám sát. Khi đưa hồ sơ H3 không nói cho anh T biết đây là hồ sơ khống để rút tiền ngân sách. H3 đã nói với anh T công trình đã xây dựng xong. Anh T có vào xã H thấy có người đang xây dựng nên anh T đã ký hồ sơ giúp H3.
Toàn bộ các tài liệu, hồ sơ giữa Công ty cổ phần T3 và UBND xã H, Phạm Hồng H3 đều ký giả chữ ký của ông Phạm Hồng S1 rồi đóng dấu Công ty. Sau đó H3 chuyển toàn bộ số tài liệu này cho Lê Minh S. Lê Minh S đã hoàn thiện hồ sơ liên quan đến Công ty TNHH T2 và UBND xã H, đưa cho ông Bùi Việt H2 giám đốc Công ty T2 ký tên, đóng dấu. Sau đó S chuyển toàn bộ các tài liệu trên cho Tống Quang L ký và đóng dấu UBND xã H là đại diện chủ đầu tư.
Sau khi Lê Minh S hoàn thiện đầy đủ các tài liệu, hồ sơ liên quan đến việc xây dựng bãi rác thải xã H. Việc quyết toán, thanh toán, chiếm đoạt tiền ngân sách do UBND xã H quản lý diễn ra như sau:
- + Lần 1: Ngày 28/7/2021, Tống Quang L đã chỉ đạo Nguyễn Mỹ H1 làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản của UBND xã H tại Kho bạc Nhà nước huyện C thanh toán cho Công ty TNHH T2 S giá trị xây lắp hoàn thành là 235.000.000 đồng. Số tiền này đã được Nguyễn Mỹ H1 chuyển thành công vào số tài khoản 2712201003033 tại Ngân hàng N - Agribank huyện C của Công ty T2. Sau khi nhận được tiền, Lê Minh S đã báo cho Tống Quang L biết. L đã chỉ đạo Nguyễn Mỹ H1 ra gặp S để lấy tiền theo thỏa thuận ban đầu. Theo thỏa thuận ban đầu, Lê Minh S đã rút tiền mặt, giữ lại 59.000.000 đồng (tương đương tỷ lệ 25%), số còn lại là 176.000.000 đồng (tương đương tỷ lệ 75%) Lê Minh S đã đưa lại cho Nguyễn Mỹ H1. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Mỹ H1 đã mang số tiền trên về phòng làm việc của Tống Quang L tại UBND xã H. Tại đây, L đã chỉ đạo H1 đưa L 100.000.000 đồng; đưa ông Nguyễn Trung K là phó chủ tịch xã là: 10.000.000 đồng để chi trả tiền vệ sinh môi trường; đưa cho bà Trần Thị Thu H4 – trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thông huyện C 65.000.000đ chi phí tiếp đoàn về thẩm định, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, còn lại 1.000.000 đồng do H1 giữ.
Như vậy, sau khi rút số tiền 235.000.000đ từ tài khoản của UBND xã H thông qua việc lập khống hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung xã H, Lê Minh S được hưởng 59.000.000 đồng; Tống Quang L được hưởng 100.000.000 đồng; Nguyễn Mỹ H1 được hưởng 1.000.000 đồng; Số tiền còn lại 65.000.000₫ đã đưa bà Trần Thị Thu H4 – Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C chi tiếp khách về thẩm định nông thôn mới hết; 10.000.000 đồng đưa ông Nguyễn Trung K chi các khoản vệ sinh môi trường, ông K đã chi phí hết.
- + Lần 2: Ngày 25/10/2022, Tống Quang L chỉ đạo chị Nguyễn Thị Thúy H5 – sinh năm: 1982, trú quán: khu T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (thời điểm này, Nguyễn Mỹ H1 đã chuyển công tác, chị H5 là Kế toán UBND xã H) làm thủ tục chuyển số tiền còn lại của hợp đồng xây dựng bãi rác thải tập trung xã H từ tài khoản của UBND xã H tại Kho bạc Nhà nước huyện C thanh toán cho Công ty TNHH T2 S giá trị xây lắp còn lại là 63.536.000 đồng. Chị H5 đã chuyển thành công số tiền 63.536.000 đồng vào số tài khoản 2712201003033 tại Ngân hàng N - Agribank huyện C của Công ty T2. Sau khi Lê Minh S nhận được tiền, S đã rút tiền mặt, theo thỏa thuận, S được giữ lại số tiền: 16.536.000₫ (tương đương tỷ lệ 25%), phải chuyển lại cho UBND xã H số tiền: 47.000.000₫ (tương đương tỷ lệ 75%). Tuy nhiên S mới đưa L số tiền 40.000.000 đồng, còn lại số tiền: 7.000.000 đồng S giữ lại, chưa đưa cho L.
Như vậy, sau khi rút được số tiền 63.536.000 đồng từ tài khoản của UBND xã H thông qua việc lập khống hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung xã H, Lê Minh S được hưởng số tiền 16.536.000 đồng, giữ số tiền 7.000.000 đồng; Tống Quang L cầm số tiền 40.000.000 đồng. Sau đó L đã đưa số tiền 40.000.000 đồng cho Vũ Hồng S2 – Thủ quỹ UBND xã H để chi phí vào những công việc của UBND xã.
- + Lần 3: Ngày 08/11/2022, Tống Quang L chỉ đạo chị Nguyễn Thị Thúy H5 làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản của UBND xã H tại Kho bạc Nhà nước huyện C thanh toán cho Công ty cổ phần T3 giá trị hợp đồng tư vấn khảo sát, thiết kế là 17.315.000 đồng. Chị H5 đã chuyển thành công số tiền 17.315.000 đồng vào số tài khoản 3511100712003 tại Ngân hàng TMCP Q (M1) chi nhánh V1 của Công ty T3. Sau khi nhận được tiền Phạm Hồng H3, rút số tiền trên và lấy 5.815.000đ theo tỷ lệ phần trăm là 35% giá trị của hợp đồng tư vấn khảo sát thiết kế theo như thỏa thuận với Lê Minh S và Tống Quang L còn lại 11.500.000đ tương đương với 65% giá trị hợp đồng tư vấn khảo sát thiết kế H3 đưa cho S để chuyển trả lại cho UBND xã H.
- + Lần 4: Ngày 02/12/2022, Tống Quang L chỉ đạo chị Nguyễn Thị Thúy H5 làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản của UBND xã H tại Kho bạc Nhà nước huyện C thanh toán cho Công ty cổ phần T3 giá trị hợp đồng tư vấn giám sát là 7.660.000 đồng. Chị H5 đã chuyển thành công số tiền 7.660.000 đồng vào số tài khoản 3511100712003 tại Ngân hàng TMCP Q (M1) chi nhánh V1 của Công ty T3. Sau khi nhận được tiền Phạm Hồng H3 rút số tiền trên và lấy 5.160.000 đồng theo tỷ lệ là 65% giá trị hợp đồng tư vấn giám sát theo như thỏa thuận với Lê Minh S và Tống Quang L, còn lại 2.500.000 tương đương với 35% giá trị hợp đồng tư vấn giám sát H3 đưa cho S để chuyển lại cho UBND xã H.
Như vậy, sau khi Phạm Hồng H3 rút được tổng số tiền là 24.975.000 đồng từ tài khoản của UBND xã H thông qua việc lập khống hồ sơ tư vấn thiết kế và tư vấn giám sát công trình xây dựng bãi rác thải tập trung xã H, H3 được hưởng số tiền là: 10.975.000 đồng; còn số tiền: 14.000.000 đồng H3 đã đưa cho Lê Minh S để đưa lại cho Tống Quang L. Tuy nhiên do lúc này, hành vi của Tống Quang L đã bị Cơ quan điều tra phát hiện nên số tiền: 14.000.000₫ S chưa đưa được cho Tống Quang L.
Tổng số tiền các bị can đã chiếm đoạt được từ ngân sách của UBND xã H đang quản lý là 323.511.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu năm trăm mười một nghìn đồng) thông qua việc lập khống hồ sơ xây dựng bãi rác thải tập trung xã H. Trong đó, Tống Quang L được hưởng 100.000.000 đồng và 40.000.000 đồng sử dụng sai mục đích, Nguyễn Mỹ H1 được hưởng 1.000.000 đồng, Lê Minh S được hưởng 75.536.000 đồng và đang giữ 21.000.000 đồng chưa đưa cho L, Phạm Hồng H3 được hưởng 10.975.000 đồng, đưa cho ông Nguyễn Trung K 10.000.000 đồng chi vệ sinh môi trường và đưa cho bà Trần Thị Thu H4 – trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện C số tiền 65.000.000 đồng để chi tiếp khách các đoàn về thẩm định nông thôn mới.
Ngày 06/6/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 136a trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh P giám định:
- + Chữ ký đứng tên ông Phạm Hồng S1 trên mẫu yêu cầu giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6) (gồm 01 (một) hồ sơ quyết toán giá trị khối lượng tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình ngày 17/8/2021; 01 (một) bản hợp đồng điều chỉnh bổ sung (lần thứ 01) số 01/2022/HĐTVTK-ĐC công trình: Bãi rác tập trung xã H năm 2022; 01 (một) Bản hợp hồng điều chỉnh bổ sung (lần thứ 01) số 01/2022/HĐTVGS-ĐC công trình: Bãi rác tập trung xã H năm 2022; 01 (một) Bản báo cáo kinh tế kỹ thuật Công trình: Bãi rác thải tập trung xã H năm 2021; 01 (một) bản hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình: bãi rác thải tập trung xã H số 13/2021/HĐ-TVTK ngày 29/3/2021; 01 (một) hồ sơ quản lý chất lượng ngày 16/6/2021) so với chữ ký của ông Phạm Hồng S1 trên mẫu ký hiệu M1 (Biên bản làm việc thu mẫu chữ ký của ông Phạm Hồng S1 ngày 04/01/2023) có phải là do cùng một người ký ra không?
- + Chữ ký đứng tên ông Phạm Hồng S1 trên mẫu yêu cầu giám định (ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6) so với chữ ký Phạm Hồng S1 trên mẫu ký hiệu M2, M3 (gồm 01 (một) Biên bản thu mẫu chữ ký của Phạm Hồng S1 do Phạm Hồng H3 ký, 01 (một) Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 19/5/2023, mẫu chữ ký và mẫu dấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q) có phải là do cùng một người ký ra không?
Tại Kết luận giám định số 799/KLGĐ-KTHS số 14/6/2023, Phòng K1 - Công an tỉnh P kết luận:
- - Chữ ký đứng tên “Phạm Hồng S1” dưới mục “Giám đốc; Đại diện chủ nhà thầu; Đơn vị tư vấn giám sát; Đại diện bên B; Công ty CP T3; Đ/D đơn vị tư vấn thiết kế/tư vấn giám sát” trên “Hồ sơ quyết toán Giá trị khối lượng tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình; Hợp đồng điều chỉnh, bổ sung (lần thứ 01) số 01/2022/HĐTVTK-ĐC; Hợp hồng điều chỉnh, bổ sung (lần thứ 01) số 01/2022/HĐTVGS-ĐC; Báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định số 84/KQTĐ-KT&HT; Bản hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình: bãi rác thải tập trung xã H số 13/2021/HĐ-TVTK; Hồ sơ quản lý chất lượng” (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6) so với chữ ký của ông Phạm Hồng S1 trên “Biên bản làm việc thu mẫu chữ ký của ông Phạm Hồng S1 ngày 04/01/2023” (mẫu so sánh ký hiệu M1) là không phải do cùng một người ký ra.
- - Chữ ký đứng tên “Phạm Hồng S1” dưới mục “Giám đốc; Đại diện chủ nhà thầu; Đơn vị tư vấn giám sát; Đại diện bên B; Công ty cổ phần T3; Đ/D đơn vị tư vấn thiết kế/tư vấn giám sát” trên “Hồ sơ quyết toán Giá trị khối lượng tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình; Hợp đồng điều chỉnh, bổ sung (lần thứ 01) số 01/2022/HĐTVTK-ĐC; Hợp hồng điều chỉnh, bổ sung (lần thứ 01) số 01/2022/HĐTVGS-ĐC; Báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định số 84/KQTĐ-KT&HT; Bản hợp đồng tư vấn khảo sát, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật công trình: bãi rác thải tập trung xã H số 13/2021/HĐ-TVTK; Hồ sơ quản lý chất lượng” (mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3, A4, A5, A6) so với chữ ký của ông Phạm Hồng H3 ký trên “Biên bản làm việc thu mẫu chữ ký của ông Phạm Hồng H3 ký ngày 04/01/2023; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 19/5/2023 do ông Phạm Hồng H3 ký” (mẫu so sánh ký hiệu M2, M3) là do cùng một người ký ra.
Quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai của các bị cáo bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản án hình sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
I, Về tội danh:
Áp dụng Điều 353Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Minh S phạm tội “Tham ô tài sản”;
II, Về hình phạt:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353;điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh S 29 (Hai mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo S.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với những bị cáo khác, về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 07/3/2024, bị cáo Lê Minh S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vàxin được hưởng án treo.
Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Lê Minh S cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là:
- - Giấy khen do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác hoạt động “Vì người nghèo” năm 2024.
- - Công văn số 36/CV-TNMT ngày 01/3/2024 của Phòng T1 - Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ về việc đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Minh S. Sửa Bản án hình sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ theo hướng xử phạt bị cáo Lê Minh S 29 (Hai mươi chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tham ô tài sản”. Thời gian thử thách là 58 (Năm mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lê Minh S trong thời hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 12 năm 2022, Tống Quang L (thời gian này là Chủ tịch UBND xã H) cấu kết với Nguyễn Mỹ H1 – là Kế toán UBND xã H, Lê Minh S (là người điều hành Công ty TNHH T2) và Phạm Hồng H3 (là người điều hành Công ty T3) lập khống hồ sơ công trình xây dựng bãi rác thải tập trung xã H để chiếm đoạt số tiền ngân sách của UBND xã H mà L là người có trách nhiệm quản lý, gây thiệt hại cho Ngân sách tổng số tiền là 323.511.000 đồng (Ba trăm hai mươi ba triệu năm trăm mười một nghìn đồng). Ngoài ra, Phạm Hồng H3 còn có hành vi ký giả chữ ký của ông Phạm Hồng S1 – giám đốc Công ty cổ phần T3 tại hồ sơ hồ sơ khống công trình xây dựng bãi rác thải tập trung xã H và dùng hồ sơ khống đó để rút tiền số tiền: 323.511.000 đồng của UBND xã H tại Kho bạc Nhà nước huyện C.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, bị cáo Tống Quang L giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã H – là người đứng đầu và có trách nhiệm quản lý tài sản, trong đó có tiền ngân sách của UBND xã H tại Kho bạc nhà nước huyện C. Tuy nhiên L đã cùng Nguyễn Mỹ H1, Lê Minh S và Phạm Hồng H3 bàn bạc, lập khống hồ sơ xây dựng công trình bãi rác thải tập trung xã H để chiếm đoạn tiền ngân sách là: 323.511.000 đồng. Nên các bị cáo Nguyễn Mỹ H1, Lê Minh S và Phạm H6 là người giúp sức tích cực giúp cho Tống Quang L chiếm đoạt số tiền ngân sách của UBND xã H là: 323.511.000 đồng nên Tống Quang L là người chủ mưu trong việc rút số tiền trên.
Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử bị cáoLê Minh S3 về tội: “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo Lê Minh S có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền án tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bị cáo Lê Minh S được Chủ tịch UBND huyện C tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến” năm 2016, 2018, 2019, 2020, 2022; được Chủ tịch UBND huyện C tặng danh hiệu lao động tiên tiến vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công công tác năm 2015; được Chủ tịch UBND thị trấn C tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác hoạt động “Vì người nghèo” năm 2022; được UBND xã Đ tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong “ Phong trào Đ1 và Thanh thiếu niên” năm 2020; được UBND xã Đ tặng Giấy khen đã có lòng hảo tâm ủng hộ làm đường bê tông năm 2021, được Hội khuyến học xã Đ tặng Giấy khen đã có lòng hảo tâm ủng hộ quỹ Khuyến học xã Đ năm 2023; bị cáo tích cực ủng hộ, đóng góp làm đường giao thông nông thôn xã Đ năm 2020, ủng hộ việc triển khai mô hình camera an ninh trên địa bàn xã P năm 2022, ủng hộ Quỹ khuyến học xã H, Quỹ khuyến học xã Y, Quỹ khuyến học xã V được ghi nhận bằng văn bản.
Bị cáo S có bố đẻ là ông Lê Văn C là thương binh loại A, thương tật 1/8, được tặng Huân chương Chiến công Hạng Ba, Huân chương Kháng chiến Hạng Ba, Giấy chứng nhận Dũng sĩ được tặng danh hiệu dung sĩ trường sơn quyết thắng cấp 3, năm 1974 được thưởng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, năm 1974 được thưởng huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhì, năm 1986 được Bộ trưởng Bộ Q1 tặng Bằng khen “Hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tại ngũ góp phần sứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng tổ quốc”, được thưởng huy hiệu xuân 1968, 1972, 1975 và được tặng Huy hiệu 55 năm tuổi đảng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo pháp luật của bị hại ông Vũ Mạnh C1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ hậu quả, quá trình công tác bị cáo đã có nhiều công sức đóng góp cho xã hội, được tặng thưởng nhiều giấy khen.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Phòng Tài nguyên và môi trường huyện T1 có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo S và Ủy ban nhân dân xã H xin giảm nhẹ cho bị cáo.
Vì vậy, bị cáo Lê Minh S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác” quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo Lê Minh S có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo, cũng đủ để giúp bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Do vậy, cần sửa phần quyết định về hình phạt chính đối với bị cáo tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 345; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Chấp nhận kháng cáo của bị cáoLê Minh S. Sửa Bản án hình sơ thẩm số 20/2024/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Lê Minh S.
[2] Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Minh S phạm tội “Tham ô tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh S 29 (Hai mươi chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 58 (Năm mươi tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Lê Minh S cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo Lê Minh S có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Lê Minh S thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Lê Minh S cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lê Minh S phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Minh S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 33/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - tham ô tài sản
- Số bản án: 33/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh S - Tham ô tài sản
