Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG


Bản án số: 33 /2024/HNGĐ-ST

Ngày 25 /04 /2024

"V/v Ly hôn”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Xuyến

Hội thẩm nhân dân:

  • [1]. Ông Trần Đức Hoà.
  • [2]. Bà Trần Thị Chín.

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Chang - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước: bà Trịnh Thị Tâm – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 04 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, thụ lý số: 17/ TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 2 năm 2024, về việc "Ly hôn", Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:17/2024/QĐST – HNGĐ, ngày 29 tháng 03 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Th M H, sinh năm 1983( có mặt ).

Địa chỉ: Thôn 2, xã Đ, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Anh Hoàng Ng S, sinh năm 1971( vắng mặt ).

Địa chỉ: Thôn Đak Xuyên, xã Đak Nhau, huyên Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/01/2024 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Huỳnh Th M H trình bày:

Tôi và anh Hoàng Ng S tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011 và có Đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện B Đ, tỉnh Bình Phước, số 105, ngày 25/02/2018. Quá trình sống chung thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hòa hợp với nhau, bất đồng về thái độ, hành vi xử sự trong cuộc sống cũng như trong sinh hoạt gia đình và vợ chồng, mâu thuẫn phát sinh trầm trọng và sống ly thân từ năm 2018 đến nay, nay tình cảm vợ chồng không còn, không duy trì được hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung, Hoàng Huỳnh Ng S; sinh ngày 10/10/2011, chị Huỳnh Th M H nhận nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu.

Bị đơn anh Hoàng Ng S xin Toà án giải quyết vắng mặt, qua lời khai trình bày nội dung, vợ chồng có đăng ký kết hôn là đúng, quá trình sống chung xảy ra nhiều mâu thuẫn và sống ly thân, nay anh đồng ý ly hôn. Về con chung, tài sản chung, nợ chung, đồng ý theo như yêu cầu nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm khẳng định: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý đến nay là đúng. Tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tố tụng của các đương sự theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1].Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định.

[2].Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Chị Huỳnh Th M H có đăng ký kết hôn với anh Hoàng Ng S, nay chị Hường xin ly hôn, vì vậy quan hệ pháp luật là “ Tranh chấp ly hôn”, theo Khoản 1, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, căn cứ vào Điểm a, Khoản 1, Điều 35, Điểm a, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

[3] .Xét về quan hệ hôn nhân thấy rằng, chị Huỳnh Th M H và anh Hoàng Ng S tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Huỳnh Th M H và anh Hoàng Ng S là hợp pháp.

Xét mâu thuẫn gia đình: Quá trình sống chung, chị Huỳnh Th M H và anh Hoàng Ng S đã xảy ra nhiều mâu thuẫn vợ chồng, anh Hoàng Ng S thừa nhận là đúng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 đến nay, các bên không còn quan tâm đến nhau nữa.

Như vậy mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Huỳnh Th M H được ly hôn với anh Hoàng Ng S.

[4]. Về con chung, vợ chồng có người con chung là Hoàng Huỳnh Ng S, sinh ngày 10/10/2011, anh Hoàng Ng S đồng ý giao con cho cô Hường nuôi dưỡng, vì vậy cần giao cháu Hoàng Huỳnh Ng S cho chị Hường chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.

[5].Về án phí: Chị Huỳnh Th M H nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000₫ theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án án phí, lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, chị Huỳnh Th M H được ly hôn với anh Hoàng Ng S.

[2]. Về con chung, Giao cháu Hoàng Huỳnh Ng S, sinh ngày 10/10/2011 cho chị Huỳnh Th M H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Quyền của anh chị đối với con chung được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu cấp dưỡng.

[3]. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4]. Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4]. Về án phí: Chị Huỳnh Th M H nộp số tiền án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm là 300.000đ, tuy nhiên khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009048 ngày 27/2/2024 ( đã nộp xong).

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND H.Bù Đăng;
  • - Chi cục THADS H. Bù Đăng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger