|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 23–4–2024. V/v “ tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Công Hảo
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đinh Cường
- Ông Dương Sinh Huy
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mai Phụng, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Mang Thít.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít : Ông Lê Thanh Phú- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2024; Về việc: “Xin ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1984. Địa chỉ cư trú: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Bị đơn: Anh Tạ Văn P, sinh năm 1980 (có văn bản xin vắng mặt). Địa chỉ cư trú: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 02 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:
Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Tạ Văn P là vợ, chồng hợp pháp được hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A ngày 04/3/2005. Vợ, chồng chung sống có 02 con chung là Tạ Thanh P1, sinh năm 2005 đã trưởng thành và Tạ Thị Thúy D, sinh ngày 17/7/2007 hiện 02 con chung đang sống với chị N, thời gian đầu mới cưới sống chung rất hạnh phúc, nhưng về sau càng mâu thuẫn nên vợ, chồng đã ly thân từ nhiều năm nay, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và hiện nay không thể hàn gắn vì mâu thuẫn quá trầm trọng. Nay cảm thấy tình cảm không còn nên chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với anh Tạ Văn P.
Về con chung: Con chung Tạ Thanh P1, sinh năm 2005 đã trưởng thành, đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết; đối với con chung Tạ Thị Thúy D, sinh ngày 17/7/2007 có nguyện vọng sống chung với chị N nên chị N nuôi dưỡng, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ chị N đã nộp cho Tòa án, không cung cấp gì thêm.
Con chung cháu Tạ Thị Thúy D có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn sống chung với mẹ Nguyễn Thị Tuyết N.
Trong các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Tạ Văn P trình bày:
Thừa nhận mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung như chị N trình bày là đúng, do mẫu thuẩn nên vợ, chồng ly thân từ năm 2020 đến nay không đoàn tựu lại, anh P muốn cho các con có một gia đình hạnh phúc nên không đồng ý ly hôn, trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì anh Tạ Văn P đồng ý giao con chung Tạ Thị Thúy D cho chị N nuôi dưỡng, anh P không cấp dưỡng nuôi con chung, về tài sản chung, nợ chung anh P cũng không đặt ra, không yêu cầu Toà án giải quyết, anh P đã nhận các thông báo của Toà án nhưng do bận nhiều việc nên anh xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS), trong đó về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng, đầy đủ đương sự, người tham gia tố tụng; về nhận đơn khởi kiện, thụ lý, ra thông báo việc thụ lý vụ án; việc tiếp nhận, yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ; việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng; việc tổ chức hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N.
Án phí: Đương sự chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Quan hệ pháp luật nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là “Ly hôn, nuôi con chung” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Do bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện M, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh P có văn bản xin vắng mặt, nên xét xử vắng mặt là phù hợp các Điều 227, 228 của BLTTDS.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2004, chị N và anh P có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị N trình bày do mâu thuẫn nên vợ, chồng đã ly thân nhiều năm nay, đến nay không đoàn tựu lại là có thật vì anh P thừa nhận, HĐXX xét thấy mục đích hôn nhân của chị N, anh P không đạt được vì vợ, chồng không thương yêu nhau nên Hội đồng xét xử cho chị N được ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Chị N yêu cầu nuôi con chung Tạ Thị Thúy D, sinh ngày 17/7/2007 là có căn cứ vì phù hợp với nguyện vọng của con chung yêu cầu được sống chung với chị N tiếp tục giao chị N nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét; Đối với con chung Tạ Thanh P1, sinh năm 2005 đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra, không yêu cầu giải quyết nên không xét.
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn nộp án phí theo quy định tại Điều 24 và Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53, 56; Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, 227, 228, 235 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 24 và Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Tuyết N cho chị Nguyễn Thị Tuyết N ly hôn anh Tạ Văn P.
- Về con chung: Giao con chung Tạ Thị Thúy D, sinh ngày 17/7/2007 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xét. Đối với con chung Tạ Thanh P2, sinh năm 2005 đã trưởng thành đủ khả năng lao động không yêu cầu nên không xét
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền tới lui, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số N°0005657, ngày 20/02/2024 nên chị N không phải nộp thêm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9, Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Án xử công khai có mặt nguyên đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Công Hảo |
(Đã ký)
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con giữa chị N và anh P
