TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-5-2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thêu ;
Bà Hoàng Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 45/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn P, thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh
- Bị đơn: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1988
Nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Bùi Thị T trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 07/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống cùng bố mẹ chồng tại xã Q, sau một thời gian vợ chồng chị ra ở riêng. Quá trình ra sống riêng vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do kinh tế khó khăn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Năm 2018 chị T đi lao động tại Nhật Bản, sau đó anh C cũng sang Nhật Bản lao động, vợ chồng chị chung sống cùng nhau được một thời gian nhưng tiếp tục mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau nữa. Cuối năm 2023 chị T về Việt Nam, anh C vẫn tiếp tục lao động tại Nhật Bản, hai người không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định vợ chồng sống ly thân đã lâu, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh C.
+Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Phạm Băng B, sinh ngày 02/8/2012 và Phạm Bảo B1, sinh ngày 19/9/2015. Hiện nay cả hai con chung đang do bố mẹ anh C nuôi dưỡng. Hai con chung của anh chị đang được học tập đầy đủ, phát triển tốt. Vợ chồng chị thỏa thuận nhờ bố mẹ anh C tiếp tục nuôi hai cháu để cho các cháu ổn định cuộc sống. Vì vậy, chị T đề nghị Tòa án giao con chung cho anh C nuôi dưỡng, trong thời gian anh C lao động tại Nhật Bản, anh C ủy quyền cho bố mẹ anh C nuôi con cháu. Việc cấp dưỡng nuôi con chung vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – anh Phạm Văn C gửi văn bản trình bày ý kiến:
+ Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoản cảnh, thời gian kết hôn đúng như chị T đã trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do quan điểm, tính tình vợ chồng có nhiều bất đồng. Mặc dù hai bên gia đình có hòa giải, khuyên ngăn nhưng vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung nên năm 2020 mặc dù hai vợ chồng anh cùng lao động ở Nhật Bản nhưng sống ly thân nhau. Từ năm 2020 đến nay hầu như vợ chồng anh không liên lạc với nhau. Năm 2023 chị T về Việt Nam nhưng chị T ở riêng, không về sống cùng con và bố mẹ anh C. Tháng 5 năm 2024 anh C đã về Việt Nam nhưng vợ chồng anh vẫn sống ly thân và không thể đoàn tụ với nhau. Nay chị T xin ly hôn, anh C đồng ý ly hôn.
+Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị T đã trình bày. Khi anh C ở nước ngoài, 02 con chung sinh sống cùng bố mẹ anh C, con chung khỏe mạnh, được học hành đầy đủ, phát triển tốt. Nay anh C về Việt Nam vẫn đang tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Vợ chồng anh đã thỏa thuận giao cả 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng. Vì vậy, đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho anh nuôi dưỡng. Anh C không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
+Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại đơn đề nghị ngày 20/3/2024 của cháu Phạm Băng B và Phạm Bảo B1 (là con chung của chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn C) đều thể hiện nguyện vọng được ở với anh C khi anh chị ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Hiện tại chị T và anh C đang sinh sống ở Việt Nam nhưng tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án (tháng 3 năm 2024), anh Phạm Văn C đang lao động ở Nhật Bản nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ. Vì vậy, không có sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[1.3] Các đương sự đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua ý kiến trình bày của anh C, chị T thể hiện thời điểm anh chị sống ly thân là năm 2020, đến thời điểm năm 2024 anh C về Việt Nam vợ chồng có điều kiện để đoàn tụ nhưng anh chị vẫn tiếp tục sống ly thân nhau. Như vậy khẳng định hôn nhân của anh chị nhiều mâu thuẫn, đời sống ly thân kéo dài, vợ chồng không hạnh phúc. Khi anh chị mâu thuẫn, đã được gia đình khuyên ngăn, hòa giải, nhưng không thành, chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn, anh C đồng ý ly hôn là thể hiện cả hai không muốn duy trì cuộc sống hôn nhân nữa. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị T ly hôn anh C là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về nuôi con chung: Chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn C có 02 con chung là Phạm Băng B, sinh ngày 02/8/2012 và Phạm Bảo B1, sinh ngày 19/9/2015. Chị T đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung cho anh C nuôi dưỡng; anh C hiện đã về Việt Nam và có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung; hai con chung đều có nguyện vọng được sống cùng anh C. Xét thấy hiện tại 02 con chung đang sinh sống ổn định cùng anh C và bố mẹ anh C, con chung được học tập, chăm sóc, phát triển tốt nên cần tiếp tục giao con chung cho anh C nuôi dưỡng là phù hợp.
Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Chị T và anh C đều xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Do chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn C có mặt ở Việt Nam tại thời điểm xét xử, chị T và anh C đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị T được ly hôn anh Phạm Văn C
- Về nuôi con chung: Xử giao cho anh Phạm Văn C trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Phạm Băng B, sinh ngày 02/8/2012 và Phạm Bảo B1, sinh ngày 19/9/2015. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí:
Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị Hồng A nộp tại biên lai số 0000123 ngày 15/3/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị T và anh Phạm Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA - PHIÊN TÒA | |
| Hoàng Thị Thu Hiền | Nguyễn Thị Thêu | Nguyễn Thị Linh Nga |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Bùi Thị T ly hôn với anh Phạm Văn C, có 02 con chung
