|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA Bản án số: 33/2024/HNGĐ - ST Ngày: 11 - 9 - 2024 V/v Ly hôn. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Trần Thị Hiền.
- 2. Ông Lê Minh Chiểu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký TAND huyện Yên Định.
Đại diện VKSND huyện Yên Định tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 11/9/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án thụ lý số 97/2024/TLST - HNGĐ ngày 19/6/2024 về việc Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26/8/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Đ, thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
-
Bị đơn: Anh Ngô Văn V, sinh năm 1987(Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/6/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu khoảng 02 tháng. Đăng ký kết hôn ngày 26/02/2024 tại UBND xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong hôn nhân nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình phân tích khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng cũng không hòa thuận. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Từ khi sống ly thân hai bên không quan tâm gì đến nhau. Chị xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh V.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 27/8/2024, anh Ngô Văn V trình bầy như sau:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu 02 tháng. Đăng ký kết hôn ngày 26/02/2024 tại UBND xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 3 năm 2024 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã lẫn nhau. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình phân tích khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng cũng không hòa hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay. Nay chị N làm đơn xin ly hôn. Anh xác định, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị N.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập các bên đến để tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên không đến và có đơn xin vắng mặt nên không hòa giải được.
Tại phiên tòa: Các đương sự vắng mặt, trước đó đã gửi đơn xin xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
{1} Về tố tụng:
1.1. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn giữa chị N và anh V là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị N và anh V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị N và anh V là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
{2} Về nội dung:
- - Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh V là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không hợp nhau, hai bên không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Đó là nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh mâu thuẫn vợ chồng.
- Hội đồng xét xử xét thấy: Chị N và anh V tìm hiểu trong thời gian ngắn, sau khi sống chung được 01 tháng đã phát sinh mâu thuẫn. Do nền tảng tiến tới hôn nhân ban đầu chưa có đã vội kết hôn, nên khi bước vào cuộc sống chung xảy ra mâu thuẫn là điều không tránh khỏi. Hai bên sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Nay chị N xin ly hôn, về phía anh V cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn là phù hợp.
- - Về con chung: Chị N và anh V chưa có chung nên HĐXX không xem xét.
- - Về tài sản và công nợ chung: Chị N và anh V không có tài sản chung và công nợ chung, nên HĐXX không xem xét.
- - Về án phí: Chị N khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng: Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
- - Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
Về hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Ngô Văn V.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Ngô Văn V chưa có con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Ngô Văn V không có tài sản chung và công nợ chung.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên lai ký hiệu: BLTU/23 số 0003560 ngày 19/6/2024. Chấp nhận chị N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị N và anh V trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Thắng |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Yên Định;
- - TAND tỉnh Thanh Hóa;
- - Chi cục THADS Yên Định;
- - UBND xã Đại Hưng, huyện Mỹ Đức, TP, Hà Nội;
- - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Cung Lê Minh C |
Phạm Hữu T |
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.Về nội dung: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 228, Điều 147 Bộ luật TTDS; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí. Đề nghị HĐXX xử: Về Hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của Chị Nguyễn Thị N, đề nghị Tòa án xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Ngô Văn V.
Về án phí: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.
Bản án số 33/2024/HNGĐ - ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
