|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-8-2024
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Hạnh
- Ông Nguyễn Huy Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chung- Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 18/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Đ, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số A đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; Địa chỉ tạm trú và chỗ ở hiện nay: Số A đường B, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
+ Bị đơn: Anh Trần Đức M, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số A đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 27/11/2023 và những lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình làm việc và tại phiên tòa chị Đoàn Thị Đ thể hiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh Trần Đức M có thời gian quen biết và tìm hiểu từ năm 2017 được khoảng hơn 01 năm thì tổ chức lễ cưới vào năm 2018. Việc chung sống là tự nguyện, được gia đình hai bên đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 07/8/2018.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2018 đến cuối năm 2022, quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra những mâu thuẫn nhỏ, đôi khi có cãi vã do bất đồng ý kiến trong cuộc sống nhưng mâu thuẫn không lớn nên vợ chồng vẫn chung sống bình thường.
Từ cuối năm 2022 thì vợ chồng chuyển về phường L, thành phố B sinh sống nhưng vẫn xảy ra mâu thuẫn và cãi vã thường xuyên hơn, có lần trầm trọng anh M có lấy dép đánh chị Đ, khi vợ chồng cãi nhau anh M thường xuyên có thái độ nóng nảy, đe dọa đến tính mạng của chị mặc dù mẹ chồng cũng đã ngăn cản nhưng không được vì vậy từ tháng 12/2023 chị đã ra dọn ra ngoài thuê nhà ở nhưng hàng ngày vẫn về đón và thăm con. Ngoài ra, trong cuộc sống anh M thường thể hiện tính cách gia trưởng, áp đặt mọi việc cho chị, không lắng nghe ý kiến của chị, không bảo vệ chị khi chị gặp nguy hiểm, anh không còn quan tâm, lo lắng cho chị nên chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không còn vì vậy chị Đ không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Đức M.
- Về con chung: Chị và anh Trần Đức M có 01 con chung là Trần Ngọc Thụy A, sinh ngày 08/4/2021.
Từ khi sống ly thân đến tháng 02/2024 cháu A do anh M nuôi dưỡng nhưng chị Đ vẫn thường xuyên về thăm, còn từ tháng 03/2024 đến nay cháu A do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hiện tại chị Đ đang làm trưởng phòng dịch vụ tại Công ty TNHH N.VINCARE, thu nhập bình quân từ 27.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng.
Nay chị Đoàn Thị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, chị đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Đ xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Đ cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại quá trình làm việc và tại phiên tòa bị đơn anh Trần Đức M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh M thừa nhận quá trình tìm hiểu, đăng ký kết hôn và tổ chức lễ cưới như chị Đ trình bày là đúng. Quá trình chung sống từ năm 2018 đến cuối năm 2022 vợ chồng sống bình thường không có mâu thuẫn gì lớn. Từ cuối năm 2022 đến nay anh thấy tình cảm vợ chồng vẫn bình thường, nhưng do vợ chồng có bất đồng trong công việc vì vậy không còn làm chung với nhau nữa từ đó chị Đ xin đi làm công việc khác nên vợ chồng không có những thời gian trao đổi về công việc cùng nhau do giờ giấc và tính chất công việc khác nhau. Còn về tình cảm vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì. Cuối năm 2023 chị Đ có yêu cầu ly hôn nhưng anh không đồng ý nên chị Điểm d ra ngoài ở, vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay.
Anh thừa nhận đầu năm 2024 khi vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân do cách dạy con không đúng nên anh có dùng dép đánh chị Đ. Ngoài ra giữa anh và chị Đ không có mâu thuẫn nào khác. Từ khi sống ly thân đến nay anh cũng có lần tìm gặp chị Đ để hàn gắn tình cảm và gia đình hai bên cũng có tác động hòa giải nhưng chị Đ cương quyết ly hôn vì vậy anh cũng không có nhu cầu hàn gắn tình cảm và đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của chị Đ.
- Về con chung: Anh M và chị Đ có 01 con chung như chị Đ trình bày trên là đúng. Nếu chị Đ cương quyết ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh đang làm cố vấn cho Công ty N1, thu nhập bình quân từ 45.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng/ tháng nên đảm bảo điều kiện nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh M trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Nguyên đơn chị Đoàn Thị Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- - Bị đơn anh Trần Đức M giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
- - Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đ và anh Trần Đức M; Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình đề nghị giao 01 con chung là cháu Trần Ngọc Thụy A cho chị Đ nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi thành niên; về cấp dưỡng chị Đ không yêu cầu nên không đề cập giải quyết, về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết;
- - Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Trần Đức M cư trú tại số A đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
[3] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Đ và anh Trần Đức M chung sống với nhau từ năm 2018, việc chung sống là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 07/8/2018. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Chị Đ trình bày từ năm 2022 đến nay vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và cãi nhau, có lúc anh M đánh chị. Ngoài ra anh M cũng có tính cách gia trưởng, nóng nảy, hay áp đặt mọi việc cho chị, không lắng nghe ý kiến của chị, không bảo vệ khi chị gặp nguy hiểm cũng không còn lo lắng, quan tâm đến chị do vậy từ tháng 12/2023 đến nay chị và anh M đã sống ly thân do không ai quan tâm gì đến nhau nữa nên chị không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm.
Còn anh M cũng xác nhận từ cuối năm 2022 đến nay vợ chồng có bất đồng trong công việc nên không còn nói chuyện hay hỏi han đến nhau do tính chất công việc và thời gian làm việc không còn phù hợp với nhau nữa. Anh cũng thừa nhận có lần anh đã dùng dép đánh chị Đ và từ tháng 12/2023 đến nay anh và chị Đ đã sống ly thân, anh có hàn gắn tình cảm, có nhờ gia đình giúp đỡ nhưng chị Đ không đồng ý. Nay chị Đ cương quyết yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của chị Đ.
Qua xác minh từ người thân và chính quyền địa phương cũng xác nhận giữa chị Đ và anh M có xảy ra nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy quá trình làm việc cả chị Đ và anh M đều thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống nên từ tháng 12/2023 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được, không ai có nhu cầu hàn gắn tình cảm vì vậy chị Đ và anh M đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Do đó, căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đoàn Thị Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Đ và anh M đã có với nhau 01 con chung tên là Trần Ngọc Thụy A, sinh ngày 08/4/2021. Cả chị Đ và anh M đều có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đến khi đủ 18 tuổi, chị Đ và anh M không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử thấy rằng việc quyết định giao con chung cho bố hay mẹ nuôi dưỡng phải đảm bảo được sự phát triển bình thường, ổn định và xuất phát từ quyền lợi của con. Xét thấy từ tháng 03/2024 cho đến nay cháu A do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cháu phát triển tốt, anh M cũng thừa nhận thời gian qua chị Đ nuôi dưỡng cháu A bình thường. Hiện nay cả chị Đ và anh M đều có công việc và chỗ ở ổn định, có thu nhập, đủ điều kiện nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc và tại phiên tòa lời trình bày của anh M có sự mâu thuẫn với tài liệu chứng cứ do anh M giao nộp, đồng thời anh M cũng chưa có tài liệu, chứng cứ chứng minh được thu nhập thực tế của mình. Ngoài ra do cháu A còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ và cháu A cũng là con gái nên để tránh xáo trộn cuộc sống, làm ảnh hưởng đến tâm lý của cháu A và để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con trong việc được chăm sóc, nuôi dưỡng và sự giáo dục phát triển toàn diện sau này của con chung, cần xem xét giao con chung cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành là cần thiết. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh M xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Đ đối với anh Trần Đức M. Xử cho chị Đoàn Thị Đ và anh Trần Đức M được ly hôn.
- Về con chung: Xử giao con chung là Trần Ngọc Thụy A, sinh ngày 08/4/2021 cho chị Đoàn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên. Chị Đ không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.
“Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình”.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.
- Về án phí: Buộc chị Đoàn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị Đ đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006079 ngày 15/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (02/8/2024).
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thị Thanh Nhàn Xuân Tỵ Hoàng |
Lê Thị Hòa |
Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đ yêu cầu giải quyết ly hôn với anh M
