Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02 – 5 – 2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Trần Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 815/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Tôn Nữ Diệu U, sinh năm 1991; Địa chỉ: B H, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Lê Đình Tiến L, sinh năm 1986; Địa chỉ: B H, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/8/2023; các lời khai của nguyên đơn thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tôn Nữ Diệu U và anh Lê Đình Tiến L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường P (nay là phường Đ), thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/02/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà mẹ anh L, hạnh phúc được 06 năm, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh L nghiện ma túy, ham chơi không lo cho gia đình, không có công việc ổn định. Chị U và anh L đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau. Nay chị U thấy không còn tình cảm với anh L, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đình Tiến L để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị U khai chị và anh Lê Đình Tiến L có 02 con chung tên là Lê Đình Tiến B, sinh ngày 06/01/2011 và Lê Đình Tiến T, sinh ngày 18/9/2014. Sau khi ly hôn, chị U có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 2 con đến khi trưởng thành. Chị U không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị U khai chị và anh Lê Đình Tiến L không có tài sản chung, không nợ của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, do anh Lê Đình Tiến L thường xuyên vắng nhà nên Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng trong thời hạn theo luật định, anh L không có mặt theo yêu cầu của Toà án và không có văn bản trình bày ý kiến.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của người làm chứng và xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Sau khi kết hôn, chị Tôn Nữ Diệu U và anh Lê Đình Tiến L sống với nhau hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh L không có công việc ổn định, không lo làm ăn kinh tế, không quan tâm vợ con và thường xuyên sử dụng ma túy nên chị U không chịu được, đã bỏ về nhà ngoại cùng với các con từ năm 2020. Nay chị U có đơn xin ly hôn anh L và yêu cầu được nuôi con thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại các Điều 28; 35; 39; 68; các Điều từ 93 đến 97; Điều 195; 196 và Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ, trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đảm bảo, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc tuân theo pháp luật của đương sự:

  • + Đối với nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
  • + Đối với bị đơn, vắng mặt tất cả các buổi làm việc cũng như phiên hòa giải là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Tôn Nữ Diệu U được ly hôn với anh Lê Đình Tiến L. Về con chung: Giao cháu Lê Đình Tiến B, sinh ngày 06/01/2011 và Lê Đình Tiến T, sinh ngày 18/9/2014 cho chị U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Do chị U không yêu cầu về cấp dưỡng nên anh Lê Đình Tiến L không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị U khai chị và anh Lê Đình Tiến L không có tài sản chung, không có nợ của ai nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Tôn Nữ Diệu U có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Đình Tiến L có hộ khẩu thường trú tại phường Đ, thành phố H và tranh chấp về nuôi con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Chị Tôn Nữ Diệu U có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lê Đình Tiến L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị U và anh L.

[3] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tôn Nữ Diệu U và anh Lê Đình Tiến L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P (nay thuộc phường Đ), thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 06/02/2012. Quá trình sống chung thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly thân nên chị U xin ly hôn với anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh L đến để hòa giải quan hệ hôn nhân giữa anh và chị U nhưng anh L vẫn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, anh L vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày về việc chị U xin ly hôn với anh, thể hiện anh không thiết tha gì đối với hôn nhân của mình mà đã bỏ mặc.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của người làm chứng và tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn giữa chị U và anh L. Tất cả kết quả đều cho thấy mối quan hệ vợ chồng giữa chị U và anh L đã đến mức độ trầm trọng do vợ chồng thường xuyên cãi vã, gây gỗ lẫn nhau và đời sống chung của anh chị không còn nên vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc. Do đó, cần chấp nhận cho chị U được ly hôn anh L là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị Tôn Nữ Diệu U và anh Lê Đình Tiến L có 02 con chung tên là Lê Đình Tiến B, sinh ngày 06/01/2011 và Lê Đình Tiến T, sinh ngày 18/9/2014. Sau khi ly hôn, chị U có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy 02 cháu hiện còn nhỏ, cần sự chăm sóc của người mẹ, quá trình vợ chồng sống ly thân, cả 02 cháu do chị U chăm sóc; chị U đang có công việc và thu nhập ổn định nên chị U có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con. Do đó, cần giao cháu B và cháu T cho chị U trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Chị U không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị U khai chị và anh Lê Đình Tiến L không có tài sản chung, không nợ của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề này.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tôn Nữ Diệu U phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tôn Nữ Diệu U.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Tôn Nữ Diệu U được ly hôn anh Lê Đình Tiến L.
  2. Về con chung: Chị Tôn Nữ Diệu U và anh Lê Đình Tiến L có 02 con chung tên là Lê Đình Tiến B, sinh ngày 06/01/2011 và Lê Đình Tiến T, sinh ngày 18/9/2014.

    Giao 02 cháu Lê Đình Tiến B, sinh ngày 06/01/2011 và Lê Đình Tiến T, sinh ngày 18/9/2014 cho chị Tôn Nữ Diệu U trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con đến khi trưởng thành (Đủ 18 tuổi). Anh Lê Đình Tiến L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Buộc chị Tôn Nữ Diệu U phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị U đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001042 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế. Chị U đã nộp đủ.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Đông Ba;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Phương Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 33/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án thụ lý số: 815/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”: Chị Tôn Nữ Diệu U được ly hôn anh Lê Đình Tiến L.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger