|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/HC-PT
Ngày: 10/01/2024
V/v: “Khởi kiện các quyết định hành chính
về quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hải;
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Nam;
Ông Bùi Xuân Trọng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lê - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 10/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 532/2023/TLPT-HC ngày 12 tháng 7 năm 2023 về việc “Khởi kiện các quyết định hành chính về quản lý đất đai”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2021/HC-ST ngày 12/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14810/2023/QĐ-PT ngày 21/12/2023, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Công ty TNHH T3; người đại diện theo pháp luật: ông Trần Phú V, sinh năm 1978 - Giám đốc; địa chỉ: thôn C, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Nguyễn Văn H; địa chỉ: số nhà D, đường N, xã Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Có mặt tại phiên tòa.
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; người đại diện theo pháp luật: ông Đinh Văn M - Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Anh T - Phó Chủ tịch UBND huyện T; địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Đức C, Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T, ông Vũ Tiến Q - Phó Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện T, ông Nguyễn Hồng S và bà Nguyễn Thị H1 - Cán bộ Ban quản lý dự án; Ông C, ông S, bà H1 có mặt tại phiên tòa; ông Q vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân tỉnh V; người đại diện theo pháp luật: ông Lê Duy T1- Chủ tịch UBND tỉnh V.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Tuấn T2 - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V; địa chỉ: Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh V; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H - Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các bản khai tiếp theo, người khởi kiện và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày:
Năm 2010, Công ty TNHH T3 được UBND tỉnh V cấp giấy chứng nhận đầu tư để thực hiện dự án: Đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng và khu điều phối ô tô địa điểm tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo Quyết định số 2592/QĐ-UBND ngày 23/9/2014, UBND tỉnh cho phép Công ty chuyển mục đích sử dụng đất và giao 7.986,0m² đất cho Công ty để thực hiện dự án, thời gian thuê 49 năm, hình thức thuê trả tiền hàng năm. Căn cứ Quyết định 2592, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V, UBND huyện T, UBND xã Đ đã phối hợp và tổ chức việc bàn giao diện tích đất 6.992,0m² nêu trên cho Công ty. Tại thời điểm Công ty được cấp giấy chứng nhận đầu tư và được các sở, ban, ngành có liên quan giao đất trên thực địa, không được đề cập đến việc diện tích đất này nằm trong quy hoạch giao thông hay sử dụng vào dự án nào khác. Do vậy, sau khi thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành, các thủ tục hành chính, đóng góp tài chính đối với cơ quan chức năng, Công ty đã tiến hành giải phóng mặt bằng, đầu tư nhiều hạng mục công trình trên diện tích đất này như: san nền, kè đá, hàng rào bảo vệ; xây nhà đón tiếp khách, nhà bếp, nhà ăn, bể cá, nhà ở nhân viên... với giá trị lớn. Các công trình đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về xây dựng thời điểm đó.
Đến tháng 7/2016, Công ty nhận được Thông báo số 92/TB-UBND ngày 06/7/2016 của UBND huyện T về việc thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án: đường nối từ H - Đ đến khu D. Theo nội dung các văn bản của UBND tỉnh V, thì khi thực hiện dự án đường nối này, sẽ tiến hành thu hồi phần đất mà Công ty được cho thuê và đã xây dựng các công trình là 3.007,6m². Diện tích đất này Công ty mới thuê và kiến thiết, đầu tư xây dựng cơ bản xong, đi vào hoạt động mới được 1-2 năm, chưa đạt được hiệu quả kinh doanh nhưng đã bị Nhà nước thu hồi làm đường, dù gặp nhiều khó khăn nhưng Công ty cũng phối hợp cùng Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư của huyện T, Ban quản lý dự án để tiến hành kiểm đếm đất đai và tài sản trên đất. Công ty cũng chủ động tháo dỡ công trình và bàn giao cho Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư huyện T 2000m² đất để thi công công trình trong khi chờ UBND huyện T lập phương án bồi thường. Công ty chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật và nghiêm túc thực hiện chủ trương của Nhà nước khi thu hồi đất. Mặc dù việc thu hồi đất khi các công trình xây dựng chưa thực sự bắt đầu được khai thác, Công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn về việc giải quyết vấn đề tiếp tục hoạt động kinh doanh, vốn vay ngân hàng và số lượng nhân công lao động...nhưng Công ty luôn mong mỏi và hi vọng UBND huyện T và UBND tỉnh V xem xét thỏa đáng bồi thường các công trình xây dựng trên đất bị thu hồi, đồng thời xem xét tạo điều kiện để Công ty có thể tiếp tục kinh doanh tại một địa điểm thích hợp.
Tuy nhiên, phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng kèm theo Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của UBND huyện T chỉ tính bồi thường giải phóng mặt bằng đất, cây cối, tài sản, vật, kiến trúc của Công ty với giá trị 1.116.258.989,0 đồng (Một tỷ, một trăm mười sáu triệu, hai trăm năm mươi tám ngàn, chín trăm tám mươi chín đồng) - một mức giá chênh lệch quá nhiều so với mức xây dựng mà Công ty đã đầu tư và thiệt hại khi thu hồi đất. Công ty đã nhiều lần có văn bản đề nghị gửi đến UBND tỉnh, UBND huyện T và Ban Q để xin đề xuất xem xét lại mức giá bồi thường, đền bù, hỗ trợ tài sản trên đất, nhưng vẫn không được các cơ quan chức năng xem xét (Công ty chưa nhận tiền bồi thường).
Số tiền UBND huyện T phê duyệt bồi thường là: 2.295.493.955 đồng; số tiền công ty đã chi phí xây dựng là: 8.832.075.259 đồng; số tiền đề nghị bổ sung: 6.536.581.304 đồng.
Việc UBND huyện T tính mức bồi thường, đền bù công trình và tài sản trên đất theo QĐ số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 là rất thấp, không có căn cứ theo quy định pháp luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến Công ty TNHH T3. Vì vậy, Công ty TNHH T3 làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
- Hủy Quyết định 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 5) đối với phần tài sản, vật kiến trúc, cây cối trên đất của công ty TNHH T3 khi thu hồi đất thực hiện dự án đường nối từ H - Đ đến khu D tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Hủy Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 7) đối với phần tài sản, vật kiến trúc, cây cối trên đất của công ty TNHH T3 khi thu hồi đất thực hiện dự án đường nối từ H - Đ đến khu D tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Hủy Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 8- bổ sung) đối với phần tài sản, vật kiến trúc, cây cối trên đất của công ty TNHH T3 khi thu hồi đất thực hiện dự án đường nối từ H- Đ đến khu D tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Hủy Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 11- bổ sung) đối với phần tài sản, vật kiến trúc, cây cối trên đất của công ty TNHH T3 khi thu hồi đất thực hiện dự án đường nối từ H - Đ đến khu D tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
* Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện là UBND huyện T-ông Lê Quý D và ông Trần Văn S1 trình bày:
- Về thẩm quyền, trình tự thủ tục tổ chức thực hiện thu hồi đất, lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất và các tài sản vật kiến trúc của Công ty TNHH T3 nằm trong chỉ giới thu hồi đất thực hiện dự án đường nối từ đường H - Đ đến khu D. Việc thu hồi đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với diện tích đất của Công ty TNHH T3 nằm trong chỉ giới thu hồi thực hiện dự án đường nối từ đường H - Đ đến khu D được UBND huyện T thực hiện từ tháng 07/2016. Thời điểm này Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực thi hành, trình tự thủ tục tổ chức thu hồi đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ đã được UBND huyện thực hiện theo quy định của luật và các văn bản hướng dẫn luật. Cụ thể: việc thực hiện thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được UBND huyện T thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai 2013; Điều 28 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ; Điều 24 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh; Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 26/9/2014 của UBND tỉnh về việc thẩm quyền thông báo thu hồi đất và ủy quyền cho UBND các huyện, thị xã, thành phố ra quyết định thu hồi đất; Quyết định số 3560/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 của UBND tỉnh về việc điều chỉnh nội dung khoản 1 Điều 1 Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 của UBND tỉnh.
Do Công ty T3 V1 được Nhà nước cho thuê đất, trả tiền thuê đất hàng năm nên không thuộc trường hợp được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 4 Điều 75 và khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013.
Về việc lập, thẩm định, phê duyệt các phương án bồi thường, hỗ trợ đối với Công ty TNHH T3: ngoài 04 công trình đã được cấp phép xây dựng tại Giấy phép số 76/GPXD-SXD ngày 28/11/2014, việc Công ty TNHH T3 tạo lập các công trình, các tài sản vật kiến trúc gắn với các công trình trong phạm vi thực hiện dự án đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng và khu điều phối xe ô tô từ thời điểm tháng 1/2015 và trong phạm vi quy hoạch hướng tuyến dự án đường nối từ đường H - Đ đến Khu D đã được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 3237/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 khi chưa được cấp phép xây dựng là vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 39 Luật Xây dựng 2003; khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 60, điểm b, k khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13. Các công trình, các tài sản vật kiến trúc này nằm trong phạm vi diện tích đất 3.007,6m² thu hồi của công ty để thực hiện dự án đường nối từ đường H - Đ đến Khu D. Đối chiếu với quy định trên các công trình xây dựng chưa được cấp phép xây dựng trên diện tích đất thu hồi của Công ty, được Công ty tạo lập trái quy định của pháp luật trong hoạt động đầu tư xây dựng được nên không đủ điều kiện để được tính toán bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai 2013.
Trên cơ sở các văn bản của UBND tỉnh về cơ chế tính toán hỗ trợ các tài sản cho công ty TNHH T3, UBND huyện T đã tổ chức lập, thẩm định, ban hành quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho Công ty và các hộ dân có đất nằm trong chỉ giới thu hồi thực hiện dự án tại các quyết định số 474/QĐ-UBND ngày 14/6/2018, số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018, số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018, số 655/QĐ-UBND ngày 6/8/2018 và số 1046/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 của UBND huyện theo đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền, đúng chế độ chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo định tại Điều 66, Điều 69 Luật Đất đai 2013; Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Chính phủ; khoản 2, Điều 24 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh; Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 26/9/2014 của UBND tỉnh về việc thẩm quyền thông báo thu hồi đất và ủy quyền cho UBND các huyện, thị xã, thành phố ra quyết định thu hồi đất; Quyết định số 3560/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 của UBND tỉnh về việc điều chỉnh nội dung khoản 1 Điều 1 Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 của UBND tỉnh và các văn bản của UBND tỉnh về cơ chế tính toán hỗ trợ cho công ty TNHH T3. Do đó, việc công ty TNHH T3 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh tuyên hủy các quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018, số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018, số 655/QĐ-UBND ngày 6/8/2018 và số 1046/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 của UBND huyện T là không đúng, không có căn cứ pháp lý.
* Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND tỉnh V- ông Hoàng Văn Đ trình bày:
- Về dự án của Công ty TNHH T3:
Công ty TNHH T3 được UBND tỉnh V cấp giấy chứng nhận đầu tư số 19121000329 ngày 10/02/2020 để thực hiện dự án: xây dựng khách sạn nhà hàng và khu điều phối xe ô tô tại xã Đ, huyện T; được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch địa điểm để thực hiện dự án tại Quyết định số 2086/QĐ-UBND ngày 26/7/2010; được UBND tỉnh cho phép Công ty chuyển mục đích sử dụng đất, giao đất để thực hiện dự án tại Quyết định số 2592/QĐ-UBND ngày 23/9/2014, được Sở T ký hợp đồng thuê đất số 2605 ngày 27/10/2014 với diện tích 6.992,0m², thời gian thuê 49 năm, hình thức thuê trả tiền hàng năm.
Ngày 28/11/2014, Công ty TNHH T3 được Sở Xây dựng cấp phép xây dựng với các hạng mục công trình: nhà đón tiếp 02 tầng, nhà bếp 01 tầng, 02 nhà ăn 01 tầng. Từ tháng 11/2014, Công ty đã thực hiện, xây dựng các công trình nhà đón tiếp, nhà ăn, nhà bếp.
Ngày 15/01/2015, Sở Xây dựng tiến hành kiểm tra, lập biên bản ghi nhận: Công ty T3 đang thi công 05 hạng mục công trình (có 04 hạng mục được cấp phép), 01 hạng mục nhà vệ sinh đang thi công chưa được cấp phép và nằm trong phạm vi quy hoạch dự án đường N- Đ đến khu D đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 3723/QĐ-UBND ngày 19/12/2014.
Ngày 23/5/2016, Chủ tịch UBND tỉnh có Quyết định số 1724/QĐ-CT phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình đường N- Đ đến khu D (thực hiện Quyết định phê duyệt quy hoạch số 3723/QĐ-UB ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh).
Ngày 06/7/2016, UBND huyện T có Thông báo thu hồi đất số 92/TB-UBND gửi Công ty T3 và các đơn vị liên quan.
- Quá trình thu hồi đất và bồi thường giải phóng mặt bằng:
Lý do thu hồi: thu hồi theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư theo quy định của UBND tỉnh tại Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015.
Về thẩm quyền, trình tự thủ tục tổ chức thực hiện việc thu hồi đất, lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất và các tài sản, vật kiến trúc bị thu hồi của Công ty T3 Vượng do UBND huyện T thực hiện theo Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 26/9/2014 và Quyết định số 560/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 của UBND tỉnh về việc thẩm quyền thông báo thu hồi đất và ủy quyền cho UBND huyện ra quyết định thu hồi đất.
Quyết định thu hồi đất: số 146/QĐ-UBND của UBND huyện T, thu hồi 3.007,6m² của Công ty T3 (đúng thẩm quyền theo khoản 3 Điều 66 Luật Đất đai).
Quyết định phê duyệt bồi thường, hỗ trợ của UBND huyện T:
- Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018, tổng kinh phí được phê duyệt là 1.138.584.169 đồng (bồi thường, hỗ trợ về tài sản vật kiến trúc, cây cối).
- Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018, số tiền 18.995.461 đồng (bồi thường, hỗ trợ thêm về tài sản vật kiến trúc).
- Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018, số tiền 593.380.331 đồng (bồi thường, hỗ trợ về đất, hoa màu, hỗ trợ chuyển đổi nghề, ổn định đời sống và sản xuất và giải phóng mặt bằng nhanh). Căn cứ Văn bản số 5119/UBND-NN56 ngày 16/7/2018 của UNBD tỉnh).
- Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 06/8/2018, số tiền hỗ trợ bổ sung 1.183.444.295 đồng (bồi thường, hỗ trợ về tài sản vật kiến trúc, cây cối).
- Các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh V:
- Văn bản số 3455/UBND-NN2 ngày 17/5/2017 của UBND tỉnh (BL 309): UBND tỉnh V cho phép tính toán hỗ trợ các chi phí liên quan đến việc san nền, kè đá, tường rào theo đề xuất của Sở G tại Văn bản số 833/SGTVT-BQLDA2 ngày 09/5/2017 và của Sở Xây dựng tại Văn bản số 1209/SXD-QHKT ngày 21/4/2017.
- Văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 17/5/2017 của UBND tỉnh (BL 331): Tại khoản 2 Văn bản số 5179/UBND-NN2 ngày 16/7/2018, UBND tỉnh cho phép UBND huyện T tính toán hỗ trợ đối với diện tích đất thu hồi 3.006,7m² của Công ty TNHH T3 Vượng theo đơn giá bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp tại thời điểm thu hồi đất (bao gồm các khoản bồi thường về đất, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, bồi thường hoa màu, hỗ trợ giải phóng mặt bằng).
- Tại khoản 3 Văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018 để giảm bớt khó khăn cho Công ty khi thực hiện thu hồi đất, UBND tỉnh cho phép không tính khấu hao đối với các tài sản xây dựng trên đất thu hồi theo đề xuất của Sở T (Văn bản số 1684/STNMT-CCQLĐĐ ngày 09/7/2018).
- Văn bản số 7561/UBND-NN5 ngày 04/10/2018 của UBND tỉnh (BL 352): UBND tỉnh đã có Văn bản số 7561/UBND-NN5 ngày 04/10/2018 đồng ý với nội dung đề xuất tính toán hỗ trợ cho công ty theo nội dung báo cáo đề xuất của UBND huyện T tại Văn bản số 343/BC-UBND ngày 18/9/2018. Cụ thể như sau:
- Đối với những tài sản phải tháo dỡ, di chuyển không sử dụng được: Mức hỗ trợ 80% theo đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản vật kiến trúc tại Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 của UBND tỉnh.
- Đối với những tài sản có thể tái sử dụng được, tính hỗ trợ di chuyển: Mức hỗ trợ 100% chi phí nhân công di chuyển.
- Đối với tài sản tạo lập không phù hợp mục đích sử dụng: Dàn thép trồng nấm, dàn phong lan, lán để xe, lán tôn của khu chuồng nuôi, khung lưới thép B40 tính hỗ trợ 20% theo đơn giá bồi thường, hỗ trợ tài sản vật kiến trúc tại Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 của UBND tỉnh.
- Đối với cây cảnh: Hỗ trợ 100% chi phí nhân công di chuyển gồm nhân công, máy cẩu phục vụ việc di chuyển các chậu cây cảnh.
- Các khoản hỗ trợ theo Quyết định 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018:
- Bồi thường về đất: 50.000đ/m².
- Hỗ trợ ổn định đời sống: 15.000đ/m².
- Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề: 2,5 x 50.000đ/m² = 125.000đ/m².
- Bồi thường về hoa màu: 5.333đ/m².
- Hỗ trợ GPMD: 2.000đ/m².
- Quan điểm của UBND tỉnh về hướng giải quyết:
- Về các Quyết định 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018; Quyết định số 604/QĐ- UBND ngày 19/7/2018; Quyết định số 655/QĐ- UBND ngày 06/8/2018; Quyết định số 1046/QĐ- UBND ngày 13/11/2018 của UBND huyện T được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật và cơ chế của tỉnh Vĩnh Phúc tại thời điểm ban hành.
- Đơn giá đất (cũng như đơn giá tài sản) để làm căn cứ tính toán giải phóng mặt bằng tại Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 của UBND tỉnh V chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho sát giá thị trường theo nguyên tắc quy định tại điểm c Điều 112; điểm d khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai là thực tế khách quan. Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi cho Công ty TNHH T3, Chủ tịch UBND tỉnh đã căn cứ Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 để giải quyết, hỗ trợ cho Công ty T3 tại các Văn bản số 3455/UBND-NN2 ngày 17/5/2017, số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018 và số 7561/UBND-NN5 ngày 04/10/2018 của UBND tỉnh là đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2021/HC-ST ngày 12/7/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 về việc đề nghị Tòa án tuyên hủy các Quyết định của UBND huyện T: Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 5); Quyết định số 604/QĐ- UBND ngày 19/7/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 7); Quyết định số 655/QĐ- UBND ngày 06/8/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 8 - bổ sung) và Quyết định số 1046/QĐ- UBND ngày 13/11/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 11- bổ sung) đối với Công ty T3.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/7/2021, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện Công ty TNHH T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo; người bị kiện là UBND huyện T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND tỉnh V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Luật Tố tụng hành chính. Đơn kháng cáo của người khởi kiện đảm bảo đúng với quy định tại các điều 204, 205 và 206 Luật Tố tụng hành chính do đó được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các quy định của pháp luật và không chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho nội dung kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của Công ty TNHH T3, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm, người bị kiện là UBND huyện T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND tỉnh V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu và thẩm quyền giải quyết:
Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và tái định cư (đợt 5), Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 7), Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 8 - bổ sung), Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 11 - bổ sung) công trình đường nối từ đường H - Đ đến khu danh thắng T của Ủy ban nhân dân huyện T là các quyết định hành chính do cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền ban hành, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện nên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 30, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
Ngày 18/11/2019, Công ty TNHH T3 có đơn khởi kiện đề nghị hủy các Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018, Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018, Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018, Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T là trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của Công ty TNHH T3, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1]. Về thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 thì đối với trường hợp trong khu đất thu hồi gồm đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, đất của tổ chức thì thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy nhiên, ngày 26/9/2014, UBND tỉnh V ban hành Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày về việc thẩm quyền thông báo thu hồi đất và ủy quyền cho UBND các huyện, thị xã, thành phố ra quyết định thu hồi đất và Quyết định số 3560/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 về việc điều chỉnh nội dung khoản 1 Điều 1 Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 nêu trên. Do đó, việc UBND huyện T ban hành thông báo thu hồi đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với diện tích đất của Công ty TNHH T3 nằm trong chỉ giới thu hồi thực hiện dự án đường nối từ đường H - Đ đến khu D là đúng thẩm quyền.
[2.2]. Về trình tự, thủ tục ban hành các Quyết định.
Trên cơ sở Quyết định số 3237/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch hướng tuyến dự án, Quyết định số 1724/QĐ-CT ngày 23/5/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt dự án: Đường nối từ đường H - Đ đến khu D, chức năng nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của UBND các huyện được quy định tại Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh; Ngày 06/7/2016 UBND huyện T đã ban hành thông báo thu hồi đất số 92/TB-UBND; tiến hành kiểm đếm diện tích đất thu hồi, các công trình xây dựng, tài sản, vật kiến trúc gắn với các công trình xây dựng, cây cối trên diện tích đất thu hồi 3.007,6m² của Công ty TNHH T3 trong các ngày 17/01/2017 và ngày 14/02/2017. Sau khi phối hợp kiểm đếm diện tích đất thu hồi, các tài sản trên diện tích đất thu hồi, UBND xã Đ, huyện T đã kiểm tra xác định nguồn gốc đất, loại đất thu hồi và có Tờ trình số 39/TTr-UBND ngày 14/5/2018 gửi UBND huyện về việc thu hồi đất để thực hiện dự án: Đường nối từ đường H - Đ đến khu D.
Trên cơ sở Tờ trình đề nghị thu hồi đất của Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện, UBND huyện T đã ban hành Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 thu hồi diện tích đất 3.007,6m² của Công ty TNHH T3 để thực hiện dự án đường nối từ đường H - Đ đến khu D.
Diện tích đất thu hồi thực hiện dự án bao gồm diện tích đất của các hộ gia đình, cá nhân và của tổ chức trong đó có diện tích đất của Công ty TNHH T3 nên việc ban hành quyết định thu hồi đất của UBND huyện T đối với diện tích đất 3.007,6m² của công ty TNHH T3 là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 66 Luật Đất đai 2013, Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 26/9/2014 và Quyết định số 3560/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 của UBND tỉnh V về việc điều chỉnh nội dung khoản 1 Điều 1 Quyết định số 2620/QĐ-UBND ngày 24/9/2014 của UBND tỉnh V.
Cùng với việc thực hiện các thủ tục thu hồi đất, UBND huyện T đã tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt các phương án bồi thường hỗ trợ các tài sản vật kiến trúc, cây cối trên diện tích đất thu hồi cho các hộ dân và Công ty TNHH T3.
Do đó, việc thu hồi đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với diện tích đất của Công ty TNHH T3 nằm trong chỉ giới thu hồi thực hiện dự án: Đường nối từ đường H - Đ đến khu D được UBND huyện T thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
[2.3]. Về nội dung các Quyết định bị khiếu kiện:
- Đối với Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của UBND huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 5) công trình Đường nối từ đường H - Đ đến Khu D:
Trên cơ sở Văn bản số 3455/UBND-NN2 ngày 17/5/2017 của UBND tỉnh V, UBND huyện T đã lập thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ (đợt 5) công trình: Đường nối từ đường H - Đ đến Khu D, trong đó tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 là 1.116.258.989 đồng (bao gồm bồi thường, hỗ trợ về tài sản, vật kiến trúc: 1.108.354.989đ và bồi thường, hỗ trợ về cây cối: 7.904.000₫); Trong đó:
- Bồi thường, hỗ trợ về đất: diện tích đất thu hồi của công ty là 3.007,6m², loại đất thu hồi theo Quyết định số 2592/QĐ-UBND ngày 23/9/2014 của UBND tỉnh về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để giao cho Công ty TNHH T3 thuê thực hiện dự án xây dựng khách sạn, nhà hàng và khu điều phối xe ô tô và Hợp đồng thuê đất số 2605 ngày 27/10/2014 giữa Sở T và Công ty TNHH T3 là đất được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm. Căn cứ khoản 4 Điều 75 và khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013, diện tích đất thu hồi của công ty không thuộc trường hợp được bồi thường về đất.
- Bồi thường, hỗ trợ về tài sản trên đất, áp giá bồi thường:
Theo quy định tại Điều 74, điểm c khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013 thì diện tích đất thu hồi của Công ty TNHH T3 là đất được Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm nên không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại. Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 thì chi phí đầu tư vào đất còn lại là các khoản chi phí mà người sử dụng đất đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất nhưng đến thời điểm cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất còn chưa thu hồi hết bao gồm: Chi phí san lấp mặt bằng; Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh; Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất.
Ngày 17/01/2017 và ngày 14/02/2017, UBND huyện T và Công ty TNHH T3 đã thực hiện việc kiểm đếm về số lượng, khối lượng tài sản, vật kiến trúc. Tại văn bản số 3455/UBND-NN2 ngày 17/5/2017, UBND tỉnh cho phép tính toán hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 các chi phí liên quan đến việc san nền, kè đá, tường rào (chi phí đầu tư vào đất còn lại). Căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định điều kiện để xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại là phải có có hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất. Tại các Văn bản số 374/HĐBT-TT ngày 21/7/2017, số 1227/HĐBT-TT ngày 01/8/2017, UBND huyện T đã yêu cầu Công ty TNHH T3 cung cấp hồ sơ pháp lý, các hóa đơn chứng từ liên quan đến việc tạo lập các tài sản vật kiến trúc; Tuy nhiên, đến ngày 30/8/2017 Công ty TNHH T3 vẫn không cung cấp được các hồ sơ pháp lý và hóa đơn chứng từ làm cơ sở xác định giá trị các tài sản vật kiến trúc để lập phương án bồi thường, hỗ trợ.
Các tài sản vật kiến trúc của Công ty trên diện tích đất thu hồi là tài sản của tổ chức, tuy nhiên Công ty TNHH T3 không cung cấp được các hồ sơ pháp lý và hóa đơn chứng từ liên quan để xác định nguyên giá của các tài sản nên theo quy định tại khoản 2 Điều 89 Luật Đất đai 2013 và Điều 9 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh V, UBND huyện T đã thực hiện tính toán phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 trên cơ sở nguyên giá tài sản được xác định theo đơn giá bồi thường đối với tài sản tương ứng trong bảng giá bồi thường tài sản kèm theo Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh và thời gian khấu hao tài sản theo quy định tại Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ T4.
Bồi thường, hỗ trợ đối với toàn bộ phần cây cối trên diện tích đất thu hồi của Công ty: chủng loại, số lượng cây cối được xác định theo biên bản kiểm đếm các ngày 17/1/2017 và ngày 14/2/2017; đơn giá bồi thường, hỗ trợ được UBND huyện T áp dụng theo đơn giá bồi thường, hỗ trợ đối với cây cối trong bảng giá bồi thường, hỗ trợ tài sản, vật kiến trúc, cây cối kèm theo các Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 của UBND tỉnh V.
Như vậy, việc UBND huyện T phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 tại Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 đã được thực hiện đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền, đúng chế độ chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai 2013; Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 2 Điều 24 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và Văn bản số 3455/UBND-NN2 ngày 17/5/2017 của UBND tỉnh V.
- Đối với Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 của UBND huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 7) công trình: Đường nối từ đường H - Đ đến khu D:
Tại Quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ (đợt 5), UBND huyện T đã thực hiện tính khấu hao đối với các tài sản, vật kiến trúc của Công ty TNHH T3 theo quy định về bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản của tổ chức. Trên cơ sở Văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018 của UBND tỉnh V, UBND huyện T đã lập, thẩm định và ban hành Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ (đợt 7) công trình: Đường nối từ đường H - Đ đến khu D, trong đó không tính khấu hao đối với các tài sản vật kiến trúc (tính 100% giá trị) và bổ sung thêm cho Công ty TNHH T3 số tiền bồi thường, hỗ trợ 18.995.461 đồng (bổ sung bồi thường, hỗ trợ đối với các tài sản, vật kiến trúc đã được phê duyệt tại quyết định số 475/QĐ-UBND ngày 14/6/2018 của UBND huyện).
Như vậy, việc lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho công ty TNHH T3 tại Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 19/7/2018 của UBND huyện T đã được thực hiện đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền, đúng chế độ chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai 2013; Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Chính phủ; khoản 2 Điều 24 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh và văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018 của UBND tỉnh V.
- Đối với Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 của UBND huyện T về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 8):
Theo quy định tại khoản 4 Điều 74, khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013, Công ty T3 Vượng thuê đất trả tiền hàng năm nên không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên để tháo gỡ, giảm bớt khó khăn cho Công ty nên UBND tỉnh V đồng ý cho phép UBND huyện T tính toán hỗ trợ đối với diện tích đất thu hồi 3.006,7m² của Công ty TNHH T3 Vượng theo đơn giá bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp tại thời điểm thu hồi đất (bao gồm các khoản bồi thường về đất, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, bồi thường hoa màu, hỗ trợ GPMB) và ban hành Văn bản số 5179/UBND-NN2 ngày 16/7/2018.
Trên cơ sở cơ chế tính toán hỗ trợ được UBND tỉnh cho phép, UBND huyện T đã lập thẩm định và phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ (đợt 8) công trình: Đường nối từ đường H - Đ đến khu D trong đó tổng số tiền hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 là 593.380.331 đồng (bổ sung tính toán hỗ trợ đối với diện tích đất thu hồi 3.006,7m² của Công ty). Cụ thể:
- Bồi thường về đất: 50.000đ/m² (căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013; đơn giá bồi thường theo Quyết định số 2637/QĐ-UBND ngày 12/8/2016 của UBND tỉnh về việc phê duyệt hệ số điều chỉnh giá đất, giá đất cụ thể để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (đợt 8/2016)).
- Hỗ trợ ổn định đời sống: 15.000đ/m² (theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; khoản 1 Điều 14 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh).
- Hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề: 2,5 x 50.000đ = 125.000đ/m² (theo quy định tại Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Điều 15 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh).
- Bồi thường hoa màu: 5.333đ/m².
- Hỗ trợ GPMB: 2.000đ/m² (theo quy định tại khoản 10 Điều 17 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh).
Việc lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 tại Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 của UBND huyện T đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền, đúng chế độ chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Điều 96 Luật Đất đai năm 2013, Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ, khỏan 2 Điều 24 Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 và Văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018 của UBND tỉnh V.
UBND huyện T đã căn cứ vào khoản 2 Văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018 của UBND tỉnh về việc bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 đồng ý cho phép không tính khấu hao đối với tài sản trên đất bị thu hồi theo đề xuất của Sở T; Văn bản số 7561/UBND-NN5 ngày 04/10/2018 của UBND tỉnh; Văn bản số 343/BC-UBND ngày 18/9/2018 của UBND huyện T và tính mức hỗ trợ theo cơ chế được UBND tỉnh cho phép tại Văn bản số 7561/UBND-NN5 ngày 04/10/2018 về việc lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho Công ty TNHH T3 tại Quyết định số 1046/QĐ-UBND ngày 13/11/2018 của UBND huyện T đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền, đúng chế độ chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai 2013; Điều 25 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/8/2014 của Chính phủ và Văn bản số 5179/UBND-NN5 ngày 16/7/2018, Văn bản số 7561/UBND-NN5 ngày 04/10/2018 của UBND tỉnh V.
[2.4]. Đối với nội dung Công ty TNHH T3 V1 bỏ ra để thỏa thuận với dân để có đất nhưng không được tính là căn cứ bồi thường như đất phi nông nghiệp hay thu hồi đất của doanh nghiệp, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ khoản 4 Điều 75, khoản 1 Điều 76 Luật Đất đai năm 2013 thì Công ty TNHH T3 Vượng thuê đất trả tiền hàng năm nên không được bồi thường về đất. Nếu có căn cứ chứng minh doanh nghiệp bỏ tiền ra hợp pháp thì số tiền này có thể sẽ được tính toán để trừ vào tiền thuê đất hàng năm của doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 13 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ. Mặc dù không được tính bồi thường khi thu hồi đất, nhưng trên cơ sở cho phép của UBND tỉnh V, UBND huyện T đã tính toán hỗ trợ 593.380.331 đồng cho doanh nghiệp khi thu hồi về đất theo Quyết định số 655/QĐ-UBND ngày 06/8/2018 là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích cho Công ty T3.
[2.5]. Đối với các tài sản trên đất do doanh nghiệp đầu tư phải có giấy phép theo quy định tại Điều 39 Luật Xây dựng năm 2003; khoản 2 Điều 7, khoản 3 Điều 60, điểm b, k khoản 2 Điều 89 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13. Tuy nhiên,
chỉ có nhà đón tiếp khách 02 tầng, nhà bếp 01 tầng, 02 nhà ăn 01 tầng xây dựng theo giấy phép của Sở Xây dựng, còn đối với những tài sản khác trong thành phần hồ sơ xin cấp phép xây dựng và không có giấy phép xây dựng (toàn bộ các công trình hạng mục công trình thuộc dự án của công ty bắt buộc phải có giấy phép xây dựng); các hạng mục không phép Thanh tra Sở Xây dựng đã lập biên bản vi phạm hành chính - theo Văn bản số 2811 ngày 22/8/2019 của Sở Xây dựng và đại diện Công ty cũng nhất trí tại văn bản làm việc ngày 30/8/2017 nên không được tính để bồi thường như Công ty nêu mà Ủy ban nhân dân huyện T áp dụng, đã tính dựa trên văn bản pháp luật, văn bản chỉ đạo của tỉnh Vĩnh Phúc là có căn cứ.
[2.6]. Về đơn giá bồi thường về tài sản mà người khởi kiện cho rằng phải áp dụng theo Quyết định 72a,b,c/QĐ-UBND ngày cùng ngày 29/9/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh V kèm theo bảng giá xây dựng của Sở Xây dựng năm 2014 để tính bồi thường mới phù hợp và đúng với chi phí doanh nghiệp bỏ ra xây dựng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Các Quyết định về việc ban hành đơn giá xây dựng công trình (phần xây dựng, khảo sát, lắp đặt) ban hành kèm theo quyết định là bộ đơn giá xây dựng công trình - phần xây dựng là cơ sở để lập dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình, phục vụ công tác lập kế hoạch và quản lý chi phí đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chứ không phải tính để bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất. Ủy ban nhân dân huyện T áp dụng theo đơn giá của Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 15/8/2014 của UBND tỉnh, Quyết định số 32/2015/QĐ-UBND ngày 16/11/2015 của UBND tỉnh V để tính bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là có căn cứ, đúng quy định.
[3]. Từ những lập luận, phân tích nêu trên, xét thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì mới để bảo vệ cho nội dung kháng cáo nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.
[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty TNHH T3 phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
[5]. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện Công ty TNHH T3; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 05/2021/HC-ST ngày 12/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về án phí hành chính phúc thẩm: Công ty TNHH T3 phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Được đối trừ 300.000 đồng Công ty TNHH T3 (do ông Nguyễn Văn H nộp thay) tại Biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số 0006757 ngày 12/10/2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hải |
Bản án số 33/2024/HC-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về khởi kiện các quyết định hành chính về quản lý đất đai
- Số bản án: 33/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khởi kiện các quyết định hành chính về quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NKK: Công ty TNHH T3; NBK: UBND huyện T tỉnh Vĩnh Phúc vụ án: "Khởi kiện các quyết định hành chính về quản lý đất đai"
