|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 33/2024/DS-ST
Ngày 30 tháng 8 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đính.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông RChâm Đương
2. Ông Phan Đình Xiềng
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Tấn Lập - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N2; địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Văn S; địa chỉ: Số B, đường H, thị trấn I, huyện I, tỉnh Gia Lai. (Theo Giấy ủy quyền số 438B ngày 09/12/2023 của Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện I). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị V (tên gọi khác Nguyễn Thị V); địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C: địa chỉ: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng N2 (Ngân hàng) thông qua Chi nhánh huyện I có cho bà Nguyễn Thị V vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 3480319/HĐTD ngày 29/3/2019, Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 28/4/2020 như sau: Số tiền vay là 200.000.000 đồng; mục đích vay là vay chăm sóc cà phê và mua vật dụng gia đình; thời hạn vay là 12 tháng, từ ngày 28/4/2020 đến ngày 28/4/2021, lãi suất vay trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ lãi 06 tháng/lần, gốc trả thành cuối kỳ. Ngày 16/7/2021, Ngân hàng có điều chỉnh giảm lãi cho bà V xuống 9%/năm trong hạn từ ngày 15/7/2021 đến ngày 31/12/2021.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà Nguyễn Thị V chỉ trả cho Ngân hàng được khoản tiền gốc là 31.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 915.561 đồng. Do bà V không trả nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ của bà V thành nợ quá hạn từ ngày 29/4/2021.
Khi vay tiền, để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng nêu trên thì giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị V có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 932019/HĐTC ngày 29/3/2019, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K 697126 được Ủy ban nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai cấp ngày 23/6/1997 cho bà Nguyễn Thị V1. Khi nhận thế chấp, Ngân hàng chỉ kiểm tra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không đo vẽ, kiểm tra lại đất và tài sản gắn liền với đất nên không biết việc đất của bà V không đủ diện tích cũng như một phần thửa đất bà V đã chuyển nhượng cho người khác.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ tính đến ngày 30/8/2024 là 274.429.096 đồng, trong đó nợ gốc là 169.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 85.374.301 đồng, nợ lãi trong hạn là 20.054.795 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ. Trường hợp bà V không trả hết số tiền nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của bà V để thu hồi nợ. Ngân hàng không đồng ý với ý kiến đề nghị trả dần tiền nợ của bà V.
2. Bị đơn là bà Nguyễn Thị V trình bày: Bà Nguyễn Thị V có vay tiền của Ngân hàng N2 thông qua Chi nhánh huyện I theo Hợp đồng tín dụng số 3480319/HĐTD ngày 29/3/2019, Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 28/4/2020 như sau: Số tiền vay là 200.000.000 đồng, mục đích vay là vay chăm sóc cà phê và mua vật dụng gia đình, thời hạn vay là 12 tháng, từ ngày 28/4/2020 đến ngày 28/4/2021, lãi suất vay trong hạn là 10%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ lãi 06 tháng/lần, gốc trả thành cuối kỳ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bà V trả cho Ngân hàng được khoản tiền gốc là 31.000.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 915.561 đồng. Khi vay tiền, để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng tín dụng nêu trên thì giữa Ngân hàng với bà V có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 932019/HĐTC ngày 29/3/2019, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K 697126 được Ủy ban nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai cấp ngày 23/6/1997. Trong thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K 697126 được Ủy ban nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai cấp ngày 23/6/1997 cho bà V1 thì vào năm 1996 khi bà V chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có chuyển nhượng một phần đất cho ông Lê Đức P và bà Hồ Thị N, hiện nay ông P và bà N đã chết, diện tích bà V chuyển nhượng tương ứng với 50 cây cà phê mà không thỏa thuận diện tích cụ thể, khi bán hai bên chỉ nói miệng mà không lập thành văn bản. Phần đất này
bà Lê Thị N1 là con của ông P và bà N nhận thừa kế lại, sau đó chuyển nhượng cho người khác, sau đó người này chuyển nhượng cho ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả tiền nợ và trường hợp bà V không trả hết số tiền còn nợ thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bà V đồng ý, nhưng đề nghị cho bà V trả dần 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết số tiền nợ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C trình bày: Ngày 18/8/2010, vợ chồng ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Nguyễn Thị H. Phần đất nhận chuyển nhượng có diện tích 500m², trên đất có một ngôi nhà gỗ lợp ngói có diện tích 30m², thửa đất nhận chuyển nhượng có tứ cận: Phía Đông giáp vườn ông Xanh. Hiện nay giáp đất của ông T và ông Đ, ông T và ông Đ là con của ông Xanh; Phía Tây giáp vườn ông K. Hiện nay giáp đường bê tông; Phía Nam giáp vườn bà N. Hiện nay giáp đất bà N1 là con của bà N; Phía Bắc giáp vườn nhà ông Q. Hiện nay giáp đất bà V, ông Q là chồng bà V. Khi nhận chuyển nhượng từ bà H thì hai bên có lập Giấy sang nhượng đất vườn và nhà ở ngày 18/8/2010. Giá trị chuyển nhượng là 35.000.000 đồng, tuy nhiên hai bên không ghi nội dung giá trị chuyển nhượng vào Giấy sang nhượng đất vườn và nhà ở, ông L và bà C cũng đã thanh toán đủ cho bà H số tiền 35.000.000 đồng vào ngày 18/8/2010. Phần đất ông L và bà C nhận chuyển nhượng từ bà H có nguồn gốc từ bà H nhận chuyển nhượng của bà Hồ Thị N vào ngày 05/01/2007, bà N có chồng là ông Lê Đức P, hiện nay thì bà N và ông P đều đã chết. Khi nhận chuyển nhượng thì bà H có giao bản gốc Giấy sang nhượng đất vườn và nhà ở ngày 05/01/2007 thể hiện việc chuyển nhượng từ bà N sang cho bà H cho ông L và bà C giữ. Còn việc chuyển nhượng từ bà V sang cho vợ chồng ông Lê Đức P và bà Hồ Thị N thì hai bên chỉ thỏa thuận bằng miệng mà không lập thành văn bản, hợp đồng. Qua đối chiếu kết quả theo Biên bản thông qua kết quả đo đạc do Tòa án lập ngày 15/12/2023, ông L và bà Chính xác đ hiện nay ông L và bà C đang quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 341,5m², có tứ cận: Phía Bắc giáp đất bà V đang sử dụng, có kích thước 26,81m; Phía Nam giáp đất cấp cho bà V, có kích thước 27,7m; Phía Đông giáp đất cấp cho bà V, có kích thước 12,29m; Phía Tây giáp đường bê tông, có kích thước 12,87m. Phần đất này thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K 697126 được Ủy ban nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai cấp ngày 23/6/1997 cho bà Nguyễn Thị V.
Nay ông L và bà C có ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Ông L và bà C không đồng ý việc Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp trong vụ án bao gồm cả phần diện tích đất 341,5m² mà ông L và bà C nhận chuyển nhượng và đang quản lý, sử dụng, đề nghị Tòa án trừ phần diện tích 341,5m² của ông L và bà C trong thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 khi giải quyết về xử lý tài sản thế chấp theo yêu cầu của Ngân hàng. Ông L và bà C không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
4. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập các tài liệu, chứng cứ: Bảng kê tính lãi; Hợp đồng tín dụng số 3480319/HĐTD ngày 29/3/2019; Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ;
Thông báo điều chỉnh giảm lãi suất cho vay trong hạn; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 932019/HĐTC ngày 29/3/2019; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Sổ giao dịch tiền vay; Chứng từ giao dịch; Quyết định ban hành Điều lệ; Điều lệ Ngân hàng N2; Danh sách mạng lưới chi nhánh Ngân hàng N2; Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ; Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh; Quyết định ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án; Căn cước công dân Cao Tấn Đ1; Quyết định về việc bổ nhiệm cán bộ; Giấy ủy quyền số 273 ngày 02/8/2023; Giấy ủy quyền số 438B ngày 09/12/2023; Đơn xin giảm lãi ngày 28/5/2023; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023; Biên bản thông qua kết quả đo đạc ngày 15/12/2023; Công văn số 212 ngày 02/4/2024; Công văn số 48 ngày 18/01/2024; Biên bản ghi lời khai ngày 30/5/2024; Giấy sang nhượng vườn và nhà ở đề ngày 05/01/2007; Giấy sang nhượng đất vườn và nhà ở đề ngày 18/8/2010; Bảng kê tính lãi đọng nợ XLRR.
4. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả tiền nợ số tiền nợ gốc là 169.000.000 đồng và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng. Trường hợp bị đơn không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ; không chấp nhận một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với phần đất ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C đang sử dụng có diện tích 341,5m² và phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hiện nay bà Nguyễn Thị V không quản lý, sử dụng có diện tích 226,4m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết. Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt. Hợp đồng giao kết giữa hai bên chủ thể trong đó có một bên chủ thể Ngân hàng là tổ chức tín dụng có đăng ký kinh doanh và một bên là bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên được xác định là hợp đồng dân sự về tín dụng và pháp luật áp dụng là Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng; Trong quá trình giải quyết vụ án những
người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng tín dụng số 3480319/HĐTD ngày 29/3/2019, Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 28/4/2020 giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên có hiệu lực, các bên trong hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ của bên vay theo hợp đồng đã được giao kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính đến 30/8/2024 là 274.429.096 đồng, trong đó nợ gốc là 169.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 85.374.301 đồng, nợ lãi trong hạn là 20.054.795 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.
Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa Ngân hàng với bà Nguyễn Thị V có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 932019/HĐTC ngày 29/3/2019, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K 697126 được Ủy ban nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai cấp ngày 23/6/1997 cho bà Nguyễn Thị V1.
Qua kết quả xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023 thấy rằng, Thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất K 697126 được Ủy ban nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai cấp ngày 23/6/1997 cho bà Nguyễn Thị V1 có: Phía Bắc giáp đường bê tông có kích thước 24,98m + 2,01m; Phía Nam giáp đất bà N1, có kích thước 33,62m; Phía Đông giáp đất ông C1 và ông Đ, có kích thước 34,23m + 28,59m; Phía Tây giáp đường bê tông, có kích thước 1,01m + 12,87m + 34,79m + 5,14m. Tổng diện tích: 1.715m².
Hiện trạng thực tế sử dụng đất của thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 như sau:
- * Phần đất bà Nguyễn Thị V hiện nay đang quản lý, sử dụng: Phía Bắc giáp đường bê tông có kích thước 24,98m + 2,01m; Phía Nam giáp phần đất bà V đã chuyển nhượng cho Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C, có kích thước 26,81m + 2,12m; Phía Đông giáp đất ông C1 và ông Đ, có kích thước 7,27m + 34,23m; Phía Tây giáp đường bê tông, có kích thước 34,79m + 5,14m; Tổng diện tích: 1.147,1m².
- * Phần đất bà V đã chuyển nhượng cho ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C: Phía Bắc giáp đất bà V đang sử dụng, có kích thước 26,81m; Phía Nam giáp đất cấp cho bà V, có kích thước 27,7m; Phía Đông giáp đất cấp cho bà V, có kích thước 12,29m; Phía Tây giáp đường bê tông, có kích thước 12,87m. Tổng diện tích: 341,5m².
- * Phần đất theo giấy chứng nhận nhưng hiện nay bà V không quản lý, sử dụng: Phía Bắc giáp đất bà V đang sử dụng, có kích thước 2,12m; Phía Nam giáp đất bà N1, có kích thước 33,62m; Phía Đông giáp đất ông Đ, có kích thước 28,59m; Phía Tây giáp đường bê tông có kích thước 1,01m; giáp đất ông L và bà C đang sử dụng
có kích thước 12,29m; giáp đất bà V có kích thước 7,27m. Tổng diện tích: 226,4m².
Vào thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp (ngày 29/3/2019) thì phần đất bà Nguyễn Thị V đang sử dụng với phần đất ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C đang sử dụng có ranh giới rõ ràng và ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C cũng đã xây dựng nhà ở, sân, hàng rào. Như vậy, khi nhận thế chấp tài sản của bà Nguyễn Thị V thì Ngân hàng đã nhầm lẫn do không thẩm định đúng tài sản dẫn đến việc nhận thế chấp cả phần tài sản của ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C mà không được sự đồng ý của họ. Hội đồng xét xử tuyên bố phần hợp đồng thế chấp liên quan đến tài sản của ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C và phần đất bà Nguyễn Thị V không sử dụng là vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định tại các Điều 126, Điều 130, Điều 131 của Bộ luật Dân sự, chỉ chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với phần tài sản thuộc quyền sử dụng hiện nay của bà Nguyễn Thị V.
[3] Về chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157, 158 của Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc bà Nguyễn Thị V phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N2 toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.700.000 đồng.
[4] Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bị đơn là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 117, Điều 126, Điều 130, Điều 131, Điều 288, Điều 299, Điều 317, Điều 319, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N2.
2. Buộc bà Nguyễn Thị V phải trả cho Ngân hàng N2 tổng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 3480319/HĐTD ngày 29/3/2019 tính đến 30/8/2024 là 274.429.096 đồng (hai trăm bảy mươi bốn triệu bốn trăm hai mươi chín nghìn không trăm chín mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc là 169.000.000 đồng (một trăm sáu mươi chín triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 85.374.301 đồng (tám mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi bốn nghìn ba trăm không một đồng), nợ lãi trong hạn là 20.054.795 đồng (hai mươi
triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng) và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.
3. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 932019/HĐTC ngày 29/3/2019 vô hiệu một phần đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất ông Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C đang sử dụng thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, có tứ cận: Phía Bắc giáp đất bà V đang sử dụng, có kích thước 26,81m; Phía Nam giáp đất cấp cho bà V, có kích thước 27,7m; Phía Đông giáp đất cấp cho bà V, có kích thước 12,29m; Phía Tây giáp đường bê tông, có kích thước 12,87m. Tổng diện tích: 341,5m²; Phần đất theo giấy chứng nhận nhưng hiện nay bà Nguyễn Thị V không quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai có tứ cận: Phía Bắc giáp đất bà V đang sử dụng, có kích thước 2,12m; Phía Nam giáp đất bà N1, có kích thước 33,62m; Phía Đông giáp đất ông Đ, có kích thước 28,59m; Phía Tây giáp đường bê tông có kích thước 1,01m; giáp đất ông L và bà C đang sử dụng có kích thước 12,29m; giáp đất bà V có kích thước 7,27m. Tổng diện tích: 226,4m².
Trong trường hợp bà Nguyễn Thị V không trả đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng N2 thì Ngân hàng N2 chỉ có quyền xử lý tài sản thế chấp đối với phần Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bà Nguyễn Thị V hiện nay đang quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 63, tờ bản đồ số 6 tại xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường bê tông có kích thước 24,98m + 2,01m; Phía Nam giáp phần đất bà V đã chuyển nhượng cho Hồ Văn L và bà Nguyễn Thị C, có kích thước 26,81m + 2,12m; Phía Đông giáp đất ông C1 và ông Đ, có kích thước 7,27m + 34,23m; Phía Tây giáp đường bê tông, có kích thước 34,79m + 5,14m; Tổng diện tích: 1.147,1m². (có sơ đồ thửa đất kèm theo Bản án).
4. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
5. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị V phải hoàn trả lại cho Ngân hàng N2 toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
6. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch phải nộp là 13.721.455 đồng (mười ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi lăm đồng) cho bà Nguyễn Thị V. Hoàn trả lại cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án
phí đã nộp là 5.987.368 đồng (năm triệu chín trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0008884 ngày 17/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đính |
Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 33/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng kiện đòi nợ, HĐ thế chấp vô hiệu một phần
