Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/DS-ST

Ngày: 27/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân.

  • - Ông Phạm Phước Cường;
  • - Ông Nguyễn Văn Bằng.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 07/TB-TA ngày 20/5/2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Tăng Ngọc H, sinh năm 1950; địa chỉ: số C đường T, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trần Quốc K, sinh năm 1966 và bà Mai Thị L, sinh năm 1966; cùng địa chỉ: tổ B, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà H, ông K và bà L có mặt tại phiên tòa

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tăng Ngọc H trình bày: Bà H có tham gia 02 dây hụi do ông K, bà L làm chủ, cụ thể:

  • - Dây hụi thứ nhất: Hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 60 phần, hụi mở ngày 19/01 Âl/2023, không nhớ ngày kết thúc, bà H tham gia 01 phần. Hụi khui đến lần thứ 40 thì ngưng, bà H góp hụi được 40 lần x 1.000.000 đồng/phần là 40.000.000 đồng và mua ½ phần hụi số tiền là 20.000.000 đồng, tổng cộng bà H đã đóng hụi là 60.000.000 đồng (gồm vốn gốc và tiền lãi) (không xác định vốn gốc hụi đã đóng được bao nhiêu) (1).
  • - Dây hụi thứ hai: Hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 53 phần, hụi mở ngày 13/3 Âl/2023, không nhớ ngày kết thúc, bà tham gia 02 phần. Hụi khui đến lần thứ 27 thì ngưng, còn lại 26 lần. Bà H góp hụi được 27 lần x 1.000.000 đồng/phần x 2 phần = 54.000.000 đồng (gồm vốn gốc đóng hụi và tiền lãi) (không xác định vốn gốc đóng hụi là bao nhiêu). Trong dây hụi này khi khui đến lần thứ 6 thì có mua 01 phần hụi số tiền là 36.990.000 đồng, yêu cầu trả lại số tiền là 53.000.000 đồng (gồm tiền vốn gốc mua hụi 36.990.000 đồng và tiền lãi 16.010.000 đồng).

Tổng cộng dây hụi này số tiền là 54.000.000 đồng + 53.000.000 đồng = 107.000.000 đồng (2).

Như vậy, cả 02 dây hụi tôi yêu cầu ông K, bà L trả lại cho tôi số tiền là (1) + (2) = 167.000.000 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu đồng) nhưng khấu trừ số tiền ông K, bà L đã trả 10.000.000 đồng nên còn lại là 157.000.000 (một trăm năm mươi bảy triệu) đồng.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: danh sách hụi (bản photo), giấy xác nhận nợ (bản photo).

Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Quốc K và bà Mai Thị L trình bày: xác định vợ chồng K, L có làm chủ các dây hụi, ông K là người đứng tên trên sổ hụi. Bà Tăng Ngọc H có tham gia các dây hụi này và mua hụi như bà H trình bày. Tuy nhiên, trong dây hụi 1.000.000 đồng/tuần (gồm 60 phần, bà H tham gia 01 phần) bà H đã đóng 40 lần hụi sống là 28.000.000 đồng (thỏa thuận mỗi phần hụi đóng là 700.000 đồng/phần) và mua ½ phần hụi sống là 14.000.000 đồng. tổng cộng là 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng; dây hụi 1.000.000 đồng/tuần (gồm 53 phần, bà H tham gia 02 phần) bà H đóng 27 lần hụi sống là 27 lần x 2 phần x 700.000 đồng/phần (thỏa thuận mỗi phần hụi đóng là 700.000 đồng/phần) = 37.800.000 đồng và mua 01 phần hụi sống là 36.990.000 đồng, tổng cộng là 74.790.000 đồng.

Như vậy, cả 02 dây hụi bà H đã đóng là 116.790.000 (một trăm mười sáu triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng, sau khi ngưng hụi chúng tôi có thỏa thuận trả cho bà H 10.000.000 đồng, nên còn lại là 106.790.000 (một trăm lẻ sáu triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.

Vợ chồng chúng tôi (K, L) đồng ý trả lại cho bà H số tiền 106.790.000 (một trăm lẻ sáu triệu bảy trăm chín mươi nghìn) đồng nhưng do hoàn cảnh khó khăn, xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.

Tại phiên tòa,

  • - Bà Tăng Ngọc H và ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L đồng xác định: dây hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 60 phần, bà H tham gia 1,5 phần, hụi khu được 40 lần thì ngưng, bà H đóng hụi sống được 40 lần x 700.000 đồng/phần x 1,5 phần = 42.000.000 đồng (1); dây hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 53 phần, bà H tham gia 02 phần, hụi khui lần thứ 27 thì ngưng, bà H đóng 27 lần hụi sống là 27 lần x 2 phần x 700.000 đồng/phần= 37.800.000 đồng và mua 01 phần hụi sống là 36.990.000 đồng, tổng cộng là 74.790.000 đồng (2). Tổng cả 02 dây hụi là (1) + (2) = 116.790.000 đồng, ông K, bà L có trả được 10.000.000 đồng nên còn lại là 106.790.000 đồng.

Đồng thời, các bên thống nhất xác định tính lãi suất chậm trả với mức lãi suất 20%/năm từ khi ngưng tháng 10Â1/2023 cho đến khi xét xử xong đối với tổng số tiền 69.800.000 đồng, tính lãi đối với số tiền 36.990.000 đồng từ tháng 5Â1/2023 cho đến khi xét xử xong.

Các bên xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

  • - Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả một lần vốn gốc hụi và tiền lãi.
  • - Bị đơn ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L đồng ý trả số tiền vốn gốc hụi và tiền lãi với mức 20%/năm từ khi ngưng tháng 10A1/2023 đối với số vốn gốc đóng hụi, tính từ tháng 5Â1/2023 đối với số tiền mua hụi cho đến khi xét xử xong như yêu cầu của nguyên đơn, nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi hết số tiền còn nợ.

Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Bà H khởi kiện yêu cầu ông K, bà L trả bà số tiền hụi đã đóng với giá 700.000 đồng/phần, tổng số tiền 74.790.000 đồng, yêu cầu tính lãi suất 20%/năm từ tháng 10/2023 âm lịch (thời gian ngưng góp hụi) đến nay, riêng số tiền mua hụi 36.990.000 đồng yêu cầu trả vốn và tính lãi kể từ khi giao tiền (tháng 05/2023 âm lịch) đến nay. Bị đơn ông K, bà L thừa nhận có làm chủ các dây hụi mà bà H tham gia, vi phạm nghĩa vụ chủ hụi (ngưng mở hụi) từ tháng 10/2023 âm lịch đến nay, đồng ý trả số tiền hụi đã đóng, mua hụi và lãi suất như yêu cầu của bà H. Xét thấy, giao dịch dân sự góp hụi giữa bà H với ông K, bà L được giao kết trên tinh thần tự nguyện, do ông K, bà L vi phạm nghĩa vụ, điều đó làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của bà H. Cho nên, bà H khởi kiện yêu cầu ông K, bà L trả số tiền hụi đã đóng và lãi suất là có căn cứ.

Đối với việc ông K, bà L xin trả dần 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ do hoàn cảnh khó khăn không được bà H đồng ý nên không đặt ra xem xét.

Đề nghị căn cứ Điều 471 BLDS năm 2015; các Điều 18, 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, về họ, hụi, biêu, phường, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Tăng Ngọc H khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L trả nợ hụi. Ông K, bà L đang cư trú trên địa bàn thành phố C nên yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

[2] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Nguyên đơn bà Tăng Ngọc H và bị đơn ông Trần Quốc K và bà Mai Thị L đồng thống nhất bà Tăng Ngọc H có tham gia 02 dây hụi và mua hụi do ông K, bà L làm chủ (trên sổ hụi ghi tên ông K) gồm: dây hụi 1.000.000 đồng/tuần (gồm 60 phần, bà H tham gia 01 phần) và dây hụi 1.000.000 đồng/tuần (gồm 53 phần, bà H tham gia 02 phần). Thời điểm ngưng các dây hụi là tháng 10 Âl/2023, ông K và bà L nợ bà H tổng số tiền hụi là 116.790.000 đồng, sau đó trả được 10.000.000 đồng nên còn nợ lại 106.790.000 (một trăm lẻ sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.

Giao dịch dân sự về hụi giữa bà Tăng Ngọc H và ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi tham gia góp họ, hụi.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • - Về vốn gốc hụi: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H và bị đơn ông K, bà L đồng thống nhất mỗi phần góp hụi là 700.000 đồng, cụ thể:

Dây hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 60 phần, bà H vào 1,5 phần, mở được 40 lần. Vậy bà H đã đóng 40 lần x 700.000 đồng/phần x 1,5 phần = 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng (1).

Dây hụi 1.000.000 đồng/tuần, gồm 53 phần, bà H vào 02 phần, mở được 27 lần. Vậy bà H đã đóng 27 lần x 700.000 đồng/phần x 2 phần = 37.800.000 đồng và mua 01 phần hụi sống số tiền 36.990.000 đồng. Tổng cộng là 74.790.000 (bảy mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi nghìn) đồng (2).

Tổng cộng vốn gốc hụi đã đóng cả 02 dây hụi là (1) + (2) = 116.790.000 đồng.

Đã trả 10.000.000 đồng nên còn lại vốn gốc hụi là 106.790.000 (một trăm lẻ sáu triệu, bảy trăm chín mươi nghìn) đồng.

  • - Về tiền lãi: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H và bị đơn ông K, bà L đồng thống nhất tính lãi chậm trả với mức lãi suất 20%/năm đối với số tiền vốn gốc hụi đã đóng từ thờii gian ngưng mở hụi là tháng 10Â1/2023, từ tháng 5A1/2023 đối với số tiền mua hụi, cụ thể tiền lãi được tính như sau:

69.800.000 đồng x 20%/năm x 06 tháng = 6.979.999 đồng làm tròn 7.000.000 (bảy triệu) đồng;

36.990.000 đồng x 20%/năm x 11 tháng = 6.871.500 (sáu triệu, tám trăm bảy mươi một nghìn, năm trăm) đồng (2)

Tổng tiền lãi là (1) + (2) = 13.871.500 (mười ba triệu, tám trắm bảy mươi một nghìn, năm trăm) đồng.

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 157.000.000 đồng bao gồm vốn gốc hụi và lãi. Tại phiên tòa, nguyên đơn thống nhất số tiền vốn gốc hụi 700.000 đồng/phần, nên thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu bị đơn trả vốn gốc hụi với số tiền là 106.790.000 đồng và tiền lãi 20%/năm tính từ khi ngưng mở hụi tháng 10 Âl/2023 và từ tháng 5Â1/2023 đến nay tổng là là 13.871.500 đồng. Xét, yêu cầu trả nợ của nguyên đơn có sự thay đổi nhưng yêu cầu này không vược quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • - Về trách nhiệm trả nợ: Trên các sổ hụi đều ghi tên ông K là chủ hụi. Tuy nhiên, ông K và bà L xác định K, L làm chủ hụi các dây hụi mà bà H tham gia nên việc bà H yêu cầu ông K, bà L cùng có trách nhiệm liên đới trả lại số tiền góp hụi là có căn cứ. Ông K, bà L là chủ hụi, đã nhận đủ tiền hụi do bà H đóng nhưng vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi thì phải có trách nhiệm trả vốn gốc hụi và tiền lãi cho bà H theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, buộc ông K, bà L liên đới có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vốn gốc và lãi là 106.790.000 đồng + 13.871.500 đồng = 120.661.500 (một trăm hai triệu, sáu trăm sáu mươi một nghìn, năm trăm) đồng (trong đó, vốn gốc hụi: 106.790.000 đồng, tiền lãi 13.871.500 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Về phương thức thanh toán:

Ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L yêu cầu được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ nhưng không được bà H chấp nhận. Cho nên, phương thức thanh toán sẽ được xem xét trong giai đoạn thi hành án.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Bà Tăng Ngọc H được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L có trách nhiệm liên đới trả cho bà Tăng Ngọc H số tiền 120.661.500 (một trăm hai triệu, sáu trăm sáu mươi một nghìn, năm trăm) đồng nên phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.033.500 đồng.

Các đương sợ có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Các Điều 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Tăng Ngọc H.

Buộc ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L liên đới trả cho bà Tăng Ngọc H số nợ hụi vốn lãi là 120.661.500 (một trăm hai triệu, sáu trăm sáu mươi một nghìn, năm trăm) đồng (trong đó, vốn gốc hụi: 106.790.000 đồng, tiền lãi 13.871.500 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

Ông Trần Quốc K, bà Mai Thị L liên đới chịu 6.033.500 (sáu triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Tăng Ngọc H, ông Trần Quốc K và bà Mai Thị L có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi

  • Số bản án: 33/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Tăng Ngọc Hạnh khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi với bị đơn Trần Quốc Khánh, Mai Thị Lan
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger