|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do– Hạnh P |
|
Bản án số: 33/2024/DS-ST Ngày: 17 - 6 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Qui
Bà Hồ Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã
Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 231/2023/TLST-DS, ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-DS, ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/QĐST-DS, ngày 22 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 92/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1991 (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: CC5, Bán đảo Linh Đàm, phường H, quận H, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Nhựt Y – Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã Long Mỹ
Người nhận ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ – Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã Long Mỹ (có mặt).
Địa chỉ: Khu vực Bình Thạnh B, phường Bình Thạnh, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh H.
Địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã Tân Phú, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình thu thập chứng cứ, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Ngọc Đ là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trình bày:
Ngày 27/02/2019 ông Nguyễn Văn P có vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch thị xã Long Mỹ theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất quá hạn 11,7%/năm, thời hạn vay là 60 tháng, thời hạn trả nợ 07/02/2024. Ông P là người vay vốn, vợ ông P bà Nguyễn Thị Bích H là thành viên trong hộ gia đình ủy quyền cho ông P thực hiện giao dịch với Ngân hàng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Cho vay không có tài sản bảo đảm. Sau khi vay tiền ông Nguyễn Văn P có trả cho Ngân hàng số tiền lãi 2.739.344 đồng Hiện nay khoản vay trên đã quá hạn mặc dù Ngân hàng và chính quyền địa phương nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông P vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Nay bà Nguyễn Thị Ngọc Đ là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 17/6/2024 là 26.812.985 đồng, trong đó vốn gốc là 20.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.812.985 đồng.
Bị đơn Nguyễn Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai được đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch thị xã Long Mỹ số tiền tính đến ngày 17/6/2024 là 26.812.985 đồng, trong đó vốn gốc là 20.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.812.985 đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Nguyễn Văn P phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, căn cứ Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Văn P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Đều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn P trả số tiền vay theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn tính đến ngày 17/6/2024 là 26.812.985 đồng, trong đó vốn gốc là 20.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.812.985 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Nguyễn Văn P có vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Phòng giao dịch thị xã Long Mỹ theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn số tiền 20.000.000 đồng theo hợp đồng vay vốn số 6600000714480633, ngày 27/02/2019, thời hạn vay là 60 tháng, thời hạn trả nợ là ngày 07/02/2024;
- Về lãi suất: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn P phải trả lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam theo thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn số 6600000714480633, ngày 27/02/2019.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn Nguyễn Văn P phải chịu án phí là 1.340.000 đồng.
Tuy nhiên, từ khi vay ông P trả lãi cho Ngân hàng số tiền 2.739.344 đồng và không trả vốn theo thỏa thuận. Mặc dù Ngân hàng cử người đến yêu cầu ông P trả số tiền vốn và lãi suất còn nợ nhưng ông P cố tình không thực hiện, từ đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Vì vậy, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn P trả số tiền vay theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn 20.000.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất ...theo quy định pháp luật”. Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Bị đơn Nguyễn Văn P đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu bị đơn Nguyễn Văn P trả số tiền lãi suất 6.812.985 đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sữa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C
- Buộc bị đơn Nguyễn Văn P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, có người đại diện ủy quyền bà Nguyễn Thị Ngọc Đ số tiền 26.812.985 đồng tính đến ngày 17/6/2024, trong đó vốn gốc là 20.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.812.985 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Nguyễn Văn P phải nộp số tiền 1.340.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cư trú.
Bị đơn Nguyễn Văn P tiếp tục chịu lãi suất trên số tiền chưa trả cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận theo hợp đồng vay vốn số 6600000714480633, ngày 27/02/2019 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Tiến |
Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 33/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 27/02/2019 ông Nguyễn Văn P có vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch thị xã Long Mỹ theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất cho vay 9%/năm, lãi suất quá hạn 11,7%/năm, thời hạn vay là 60 tháng, thời hạn trả nợ 07/02/2024. Ông P là người vay vốn, vợ ông P bà Nguyễn Thị Bích H là thành viên trong hộ gia đình ủy quyền cho ông P thực hiện giao dịch với Ngân hàng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Cho vay không có tài sản bảo đảm. Sau khi vay tiền ông Nguyễn Văn P có trả cho Ngân hàng số tiền lãi 2.739.344 đồng Hiện nay khoản vay trên đã quá hạn mặc dù Ngân hàng và chính quyền địa phương nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông P vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Nay bà Nguyễn Thị Ngọc Đ là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn P có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 17/6/2024 là 26.812.985 đồng, trong đó vốn gốc là 20.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.812.985 đồng. Bị đơn Nguyễn Văn P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Bích H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai được đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
