Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2024/DS-ST

Ngày: 13-6-2024

“V/v Tranh chấp thoả thuận

sử dụng thẻ tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu
Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 23/2024/TLST- DS ngày 22 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-DS ngày 07/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2024/QĐST-DS ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B (sau đây viết tắt là: Ngân hàng TMCP B hoặc Ngân hàng); Trụ sở chính: Tòa nhà HM T đường N, phường E, quận C, TP Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên hệ: 267-269 đường N, phường V, quận T, TP Đà Nẵng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T – chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Đình A, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Q; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1, chức vụ: Chuyên viên hiện trường của Hội sở. Ông T1 có mặt.

  • - Bị đơn: Bà Võ Thị Tường V, sinh ngày 07/02/1982; Địa chỉ: B đường B, phường K, quận C, TP Đà Nẵng; Vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/01/2024 và các bản tự khai ngày 07/3/2024, 26/4/2024, 22/5/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm thì nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B trình bày:

Ngày 10/09/2019, bà Võ Thị Tường V có ký với Ngân Hàng TMCP B giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 000165 và đồng ý việc sử dụng thẻ sẽ tuân theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B, Ngân hàng đã cung cấp có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào hồ sơ của bà Võ Thị Tường V, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân cho bà V. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà V đã thực hiện 71 giao dịch mua hàng với tổng số tiền là: 1.169.956.252 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng 44 giao dịch bao gồm gốc, lãi và phí với tổng số tiền là: 1.143.410.000 đồng (thứ tự thanh toán thẻ căn cứ theo Điều 10 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B). Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà V vẫn không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng. Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 5 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B) bắt đầu giai đoạn quá hạn từ ngày 21/02/2023, Ngân hàng TMCP B đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà V.

Theo thỏa thuận hợp đồng, bà V vay theo hình thức thẻ tín dụng có hiệu lực từ ngày 13/09/2019 đến 30/9/2025, lãi suất tại thời điểm phát hành thẻ là 35%/năm(2.92%/tháng), thay đổi theo từng thời kỳ, phí chậm thanh toán là 6% số tiền chậm thanh toán cộng dồn tất cả các kỳ chưa thanh toán (tối thiểu 100.000 đồng) và lãi suất quá hạn áp dụng là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại (tương ứng 52.5%/năm) khi vi phạm hợp đồng theo điểm g khoản 2 Điều 13 của Điều khoản & Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B.

Qúa trình sử dụng thẻ tín dụng bà V đã giao dịch mua hàng trong 71 lần, số tiền tổng nợ gốc bà V đã vay thể hiện qua các giao dịch là: 1.169.956.252 đồng, bà V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền nợ gốc, lãi và phí là: 1.143.410.000 đồng. Mặc dù thời hạn hợp đồng chưa hết nhưng do bà V vi phạm thỏa thuận về thanh toán được quy định tại Điều 5 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP B nên Ngân hàng buộc bà V phải thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Tại đơn khởi kiện thì Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Tường V phải trả cho Ngân hàng tính đến hết ngày 06/12/2023 số tiền là: 40.696.281 đồng (Bốn mươi triệu, sáu trăm chín mươi sáu nghìn, hai trăm tám mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là: 28.746.708 đồng, nợ lãi là: 11.949.573 đồng và đề nghị Tòa án buộc bà V tiếp tục có trách nhiệm thanh toán các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 07/12/2023 cho đến khi trả dứt điểm khoản tiền nợ theo qui định của Ngân hàng TMCP B.

2

Tuy nhiên, tính đến thời điểm ngày 13/6/2024 thì số tiền nợ gốc, lãi mà Ngân hàng yêu cầu bà V phải thanh toán có thay đổi, cụ thể như sau: Nợ gốc: 28.746.708 đồng, nợ lãi quá hạn là: 19.805.694 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi mà Ngân hàng chúng tôi yêu cầu bà V phải thanh toán là: 48.552.402 đồng (Bốn mươi tám triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, bốn trăm lẻ hai đồng).

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cũng như đảm bảo việc thu hồi nợ phục vụ hoạt động kinh doanh, Ngân hàng TMCP B kính đề nghị Tòa án giải quyết:

Buộc bà Võ Thị Tường V phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 13/06/2024 là: 48.552.402 đồng (Bốn mươi tám triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, bốn trăm lẻ hai đồng) và buộc bà V tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 14/6/2024 cho đến khi trả hết nợ theo quy định của Ngân hàng TMCP B.

Buộc bà Võ Thị Tường V phải chịu toàn bộ chi phí trong quá trình tố tụng.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Võ Thị Tường V không có ý kiến phản hồi, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp: Ngân hàng TMCP B yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Võ Thị Tường V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 13/6/2024) là 48.552.402 đồng, theo thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 10/9/2019. Do đó, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng” khoản 15 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về giao dịch dân sự, cụ thể là “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng”, thông qua hình thức mở thẻ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP BVõ Thị Tường V. Bị đơn bà V có nơi cư trú tại: phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định

3

tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn bà Võ Thị Tường V nhưng bà V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP B yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Võ Thị Tường V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày xét xử là 48.552.402 đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc là: 28.746.708 đồng, nợ lãi là: 19.805.694 đồng. Buộc bà V phải chịu lãi, phí theo hợp đồng cho đến khi trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng, buộc bà V phải chịu các chi phí trong quá trình tố tụng.

Xét yêu cầu của đương sự, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến, trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B buộc bị đơn bà Võ Thị Tường V phải trả khoản nợ gốc là: nợ gốc là: 28.746.708 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 10/09/2019, bà Võ Thị Tường V có ký với Ngân Hàng TMCP B giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 000165. Căn cứ vào thu nhập của bà Võ Thị Tường V, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà V đã thực hiện 71 giao dịch mua hàng với tổng số tiền là: 1.169.956.252 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng 44 giao dịch bao gồm gốc, lãi và phí với tổng số tiền là: 1.143.410.000 đồng. Còn lại số tiền nợ gốc 28.746.708 đồng chưa thanh toán. Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng bà V vẫn không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng. Do bà V vi phạm nghĩa vụ thanh toán bắt đầu giai đoạn quá hạn từ ngày 21/02/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà V.

Tại phần cam kết của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có nội dung “Chúng tôi đọc, hiểu và đồng ý tuân thủ tất cả nội dung tại các bản điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng đã được cung cấp bởi Ngân hàng TMCP B ... Các bản Điều khoản & Điều kiện, biểu phí, Giấy đề nghị này cũng như các bản ghi âm và bản sao kê giao dịch hàng tháng Ngân hàng gửi cho tôi/ chúng tôi sau khi chấp thuận đề nghị này sẽ tạo thành hợp đồng sử dụng thẻ giữa tôi/ chúng tôi với Ngân hàng ...”. Tại Điều 13 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ

4

tín dụng của Ngân hàng TMCP B quy định “Khi việc vi phạm hợp đồng xảy ra, Ngân hàng có quyền: Chấm dứt việc sử dụng thể và tiến hành thu hồi toán bộ nợ..”

Như vậy theo bản Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ như đã viện dẫn nêu trên thì bà V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng TMCP B. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà V phải thanh toán khoản nợ gốc cho Ngân hàng với số tiền 28.746.708 đồng là phù hợp với Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bà Võ Thị Tường V phải trả cho Ngân hàng TMCP B khoản nợ gốc với tổng số tiền là 28.746.708 đồng (Hai mươi tám triệu, bảy trăm bốn mươi sáu nghìn, bảy trăm lẻ tám đồng).

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền lãi quá hạn từ ngày 21/02/2023 cho đến ngày xét xử ngày 13/6/2024 với số tiền 19.805.694 đồng.

Theo mục 13 của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ quy định “...Khi việc vi phạm hợp đồng xảy ra, Ngân hàng có quyền...áp dụng lãi suất quá hạn (150% lãi suất trong hạn được áp dụng) ...”. Thời gian quá hạn từ ngày 21/02/2023 đến ngày xét xử ngày 13/6/2024 là 479 ngày, lãi trong hạn được áp dụng là 35%/năm, số tiền nợ gốc tính lãi là: 28.746.708 đồng. Như vậy lãi quá hạn được xác định như sau: Nợ gốc: 28.746.708 đồng x 35%/năm x 150% x 479 ngày = 19.805.694 đồng như Ngân hàng yêu cầu là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, tổng cộng số tiền Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị đơn bà Võ Thị Tường V phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP B là: 48.552.402 đồng (Bốn mươi tám triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, bốn trăm lẻ hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Võ Thị Tường V vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

[4] Về án phí:

Bị đơn bà Võ Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là: 2.427.620 đồng.

Vì các lẽ trên:

5

QUYẾT ĐỊNH

I. Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Khoản 15 Điều 4; Điều 91; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sở thẩm được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

II. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với bị đơn bà Võ Thị Tường V về việc “Tranh chấp thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng”.

2.1. Buộc bà Võ Thị Tường V phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền nợ tổng cộng là: 48.552.402 đồng (Bốn mươi tám triệu, năm trăm năm mươi hai nghìn, bốn trăm lẻ hai đồng), trong đó bao gồm các khoản sau:

  • + Nợ gốc: 28.746.708 đồng (Hai mươi tám triệu, bảy trăm bốn mươi sấu nghìn, bảy trăm lẻ tám đồng).
  • + Nợ lãi quá hạn: 19.805.694 đồng (Mười chín triệu, tám trăm lẻ năm nghìn, sáu trăm chín mươi bốn đồng).

2.2 Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày 14/6/2024 bà Võ Thị Tường V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi bà V thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

III. Về án phí và quyền kháng cáo

- Về án phí:

+ Bà Võ Thị Tường V phải chịu 2.427.620 đồng (Hai triệu, bốn trăm hai mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6

+ Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.017.407 đồng (Một triệu không trăm mười bảy nghìn, bốn trăm lẻ bảy đồng) theo biên lai thu tiền số 0000623 ngày 22/01/2024.

- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Văn Cương

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2024/DS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp thoả thuận sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 33/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thoả thuận sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Ngân hang Ab - Tường V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger