Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LỮ

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 33/2023/HS-ST

Ngày: 14/7/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Mạnh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Đình Hiển và ông Lương Văn Kế

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mừng - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Văn Đ, sinh năm 1994 tại xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn PO, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn Ph và bà Lương Thị Ng; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 17/8/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị tạm giữ ngày 08/3/2023, bị tạm giam ngày 11/3/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên “có mặt tại phiên tòa”

Bị hại: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn LH, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”

Người làm chứng:

  • - Ông Mai Xuân Th, sinh năm 1965; Địa chỉ: Thôn AC, xã LP, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”
  • - Anh Bùi Minh Đ1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Đường AÐ, phường HN, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”
  • - Cháu Nguyễn Hưng L, sinh năm 2010; Người giám hộ cho cháu L: Anh Nguyễn Văn H là bố đẻ; Địa chỉ: Thôn LH, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”
  • - Bà Lương Thị Ng, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn PO, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 04/3/2023, Phạm Văn Đ đi bộ từ nhà ra đường liên xã hướng về Ủy ban nhân dân xã NT với mục đích xem có gia đình nào sơ hở sẽ trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến khu vực phía trước cửa nhà anh Nguyễn Văn H, bị cáo nhìn thấy 01 xe đạp điện nhãn hiệu Tiger, màu đen và 01 xe máy nhãn hiệu Cup của anh H đang dựng trước cửa nhà giáp với đường liên xã. Quan sát không có người, bị cáo đi đến vị trí chiếc xe đạp điện dắt xe ra khu giãn dân mới rồi dùng tay bẻ vỡ ốp ổ khóa và đấu hai đầu sợi dây điện ổ khóa với nhau thì xe đạp điện khởi động được. Bị cáo điều khiển xe đạp điện đi qua cổng làng LH ra đường nối cao tốc đến nhà anh Mai Xuân Th ở thôn AC, xã LP, thành phố HY gửi. Đến sáng ngày 06/3/2023, bị cáo đi xe máy nhãn hiệu Dream, biển số 89F2-2347 từ nhà đến nhà anh Bùi Minh Đ1, sinh năm 1978 ở Đường AÐ, phường HN, thành phố HY nhờ anh Đ1 cùng đi xuống nhà anh Th lấy chiếc xe đạp điện. Khi đi gần đến nhà anh Th thì anh Đ1 nói “chú cứ vào lấy xe đi, anh lên uống thuốc rồi quay lại” rồi điều khiển xe máy của bị cáo đến Bệnh viện Nhiệt đới uống thuốc Methadone, còn bị cáo một mình đi vào nhà anh Th lấy chiếc xe đạp điện đã gửi. Bị cáo mang xe ra khu vực vắng người ở gần đó, lấy một ổ khóa đã mua từ trước lắp vào chiếc xe đạp điện rồi điều khiển xe đi ra vị trí đã hẹn với anh Bùi Minh Đ1. Khoảng 05 phút sau anh Đ1 quay lại thấy bị cáo đang ngồi trên chiếc xe đạp điện nên hỏi thì bị cáo nói đó là xe của mình rồi cả hai điều khiển xe máy và xe đạp điện đi về nhà bị cáo. Bị cáo cất xe đạp điện vào trong nhà rồi điều khiển xe máy chở anh Bùi Minh Đ1 về. Đến ngày 08/3/2023, do lo sợ bị phát hiện nên bị cáo đến Công an huyện Tiên Lữ đầu thú, giao nộp chiếc xe đạp điện đã trộm cắp được và thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của bị cáo tại thôn PO, xã NT, huyện TL nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Lữ kết luận: Giá trị của chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Tiger, màu đen, số khung: NCTGX220707866, số máy: WUX148V2206023629, đã qua sử dụng là 4.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tiên Lữ đã thu giữ, quản lý: 01 xe đạp điện nhãn hiệu Tiger, màu đen, số khung: NCTGX220707866, số máy: WUX148V2206023629, đã qua sử dụng; 01 đôi dép tông màu xanh - đen, bên trên ghi chữ “Aberconnbie"; 01 quần soóc bò dài 52cm, cạp dài 34cm; 01 mũ lưỡi chai màu ghi, dài 23cm.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSTL ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo nhận tội và khai báo thành khẩn về hành vi trộm cắp chiếc xe đạp điện của gia đình anh H đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ đã truy tố, đồng thời đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại giai đoạn điều tra đề nghị cơ quan pháp luật giải quyết thành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự anh đã nhận được lại tài sản bị trộm cắp nên không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, hành vi của cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 08/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép tông màu xanh - đen, bên trên ghi chữ “Aberconnbie"; 01 quần soóc bò dài 52cm, cạp dài 34cm; 01 mũ lưỡi chai màu ghi, dài 23cm là tài sản của bị cáo không còn giá trị sử dụng, bị cáo đề nghị không lấy lại. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo tự bào chữa: Nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Lữ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về nội dung: Lời khai nhận hành của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm hồi 14 giờ 45 phút ngày 04/3/2023; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú hồi 10 giờ 30 phút ngày 08/3/2023; Bản kết luận định giá tài sản số 53/KL - HĐĐGTS ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Lữ; phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Văn H là người bị hại; lời khai của người làm chứng. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 04/3/2023, tại phía trước cửa nhà của anh Nguyễn Văn H ở thôn LH, xã NT, huyện TL, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn Đ đã lợi dụng sơ hở, có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu Tiger, màu đen của anh H trị giá 4.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự an ninh ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để trộm cắp tài sản nên phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã 01 lần bị Tòa án đưa ra xét xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân, sau khi chấp hành xong hình phạt vẫn lao vào con đường nghiện hút ma túy, tiếp tục phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật, không ăn năn hối cải, khó giáo dục cải tạo nên cần xét xử nghiêm, có mức hình phạt thích đáng tương xứng với tính chất mức độ phạm tội.

[4]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu đã một lần bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo với thái độ ăn năn, hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật, đáp ứng nhu cầu phòng ngừa tội phạm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên tòa.

[5]. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

[6]. Về xử lý vật chứng: Tài sản bị cáo trộm cắp là 01 xe đạp điện nhãn hiệu Tiger, màu đen, số khung: NCTGX220707866, số máy: WUX148V2206023629, đã được trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn H. Anh H không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 đôi dép tông màu xanh - đen, bên trên ghi chữ “Aberconnbie"; 01 quần soóc bò dài 52cm, cạp dài 34cm; 01 mũ lưỡi chai màu ghi, dài 23cm là tài sản của bị cáo tuy nhiên không còn giá trị sử dụng, bị cáo đề nghị không lấy lại nên tịch thu cho tiêu hủy.

[7]. Đối với anh Mai Xuân Th là người đã cho bị cáo gửi nhờ chiếc xe đạp điện trộm cắp được: Tài liệu điều tra xác định khi anh Th cho Đ gửi nhờ xe thì không biết chiếc xe đạp điện trên là tài sản do Đ phạm tội mà có nên không xem xét xử lý.

Đối với anh Bùi Minh Đ1 là người đi cùng bị cáo đến nhà anh Th để lấy lại chiếc xe đạp điện trộm cắp được. Tuy nhiên, anh Bùi Minh Đ1 không biết chiếc xe đạp điện trên là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, không hưởng lợi gì nên không có căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù) thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 08/3/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điểm c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 đôi dép tông màu xanh - đen, bên trên ghi chữ “Aberconnbie"; 01 quần soóc bò dài 52cm, cạp dài 34cm; 01 mũ lưỡi chai màu ghi, dài 23cm (Số lượng và đặc điểm của vật chứng Theo quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ-VKS- TL ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sư sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho bị cáo biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Phòng KTNV Tòa án tỉnh;
  • - VKSND huyện Tiên Lữ;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ;
  • - CA huyện Tiên Lữ;
  • - CA Trại tạm giam;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, THA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đoàn Mạnh Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 33/2023/HS-ST ngày 14/07/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 33/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/07/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án bị cáo Phạm Văn Đại trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger