|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 33/2022/HS-ST Ngày: 24/3/ 2022 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Như Lữ.
- 2. Bà Nguyễn Thu Hiền.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Ái - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn T (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1988 tại huyện Đ, tỉnh B; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng – Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Lường Văn Đ (tên gọi khác: Lường Văn L, Lường Văn D) (đã chết) và bà Quàng Thị Đ (tên gọi khác: Lường Thị L), sinh năm: 1960; có vợ là Lò Thị N, sinh năm 1974 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: không, tiền sự: Ngày 27/12/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên ra Quyết định số 1244/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn chấp hành là 24 tháng, đến năm 2014 chấp hành xong trở về địa phương, đến nay được coi là chưa bị áp dụng.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/12/2021 đến 31/12/2021; tạm giam từ ngày 01/01/2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa: Bà Lê Thị Thúy A – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/12/2021, Lường Văn T điều khiển xe máy từ nhà tại Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh B đến trung tâm điều trị Methadone thuộc tổ 05, thị trấn Đ, huyện B. Trong lúc đứng đợi uống thuốc, T nghe được hai người đàn ông nói chuyện và biết được ông Viên ở chợ trung tâm huyện Điện Biên Đông là người nghiện methamphetamine nên sau khi uống thuốc Methadone tại Trung tâm cai nghiện huyện Điện Biên Đông xong, Lường Văn T đã điều khiển xe máy đến quán nước nhà ông Viên. Qua trao đổi, T đã mua được 02 viên methamphetamine với giá 100.000đ, nhận methamphetamine T gói 02 viên methamphetamine vừa mua được bằng mảnh nilon màu xanh rồi cho vào găng tay bên trái và đeo vào tay, sau đó điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi T đi đến khu vực Đài tưởng niệm thuộc tổ 02, thị trấn Đ, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an thị trấn huyện Đ đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy.
Vật chứng thu giữ của Lường Văn T gồm: 02 viên Memphetamine, 02 chiếc găng tay màu đen và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS RC màu đen – xám – vàng, biển kiểm soát 27B1-511.55, đã qua sử dụng; số khung RLCUE1710G-Y120707, số máy E3T6E-179053 xe không có gương chiếu hậu bên phải, có gương chiếu hậu bên trái (Kèm theo chìa khóa xa và đăng ký xe).
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng đối với vật chứng thu giữ của Lường Văn T: Số viên nén màu hồng có khối lượng là 0,17 gam, trích mẫu gửi giám định là 0,07 gam, vật chứng còn lại là 0,1 gam.
Tại bản kết luận định số 80/GĐ-PC09 ngày 30/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lường Văn T gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 323, mục IIC, Danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Quá trình giải quyết vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Điện Biên Đông đã xác minh, xác định chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS RC màu đen - xám - vàng, biển kiểm soát 27B1-511.55, đã qua sử dụng; số khung RLCUE1710G-Y120707, số máy E3T6E-179053 xe không có gương chiếu hậu bên phải, có gương chiếu hậu bên trái (Kèm theo chìa khóa xa và đăng ký xe) là phương tiện bị cáo Lường Văn T sử dụng vào việc phạm tội là tài sản hợp pháp của chị Lò Thị N, sinh năm 1974, trú tại Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh B, chị không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy, chị Lò Thị N đã làm đơn xin lại chiếc xe máy để phục vụ nhu cầu đi lại cho gia đình. Nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng số 02 ngày 20/01/2022 trả chiếc xe máy cho chị Lò Thị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo Lường Văn T thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/12/2021, tại quán nước nhà ông Viên thuộc Tổ 05, thị trấn Đ, huyện B, qua trao đổi đã mua được 02 viên Methamphetamine với giá 100.000đ. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo bị tổ công tác Công an thị trấn Đ, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 0,17 gam Methamphetamine.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp nghiêm trọng; xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội; bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ tác hại của chất ma túy và sự nghiêm cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình vi phạm cho nên phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mình đã thực hiện. Theo lời khai và chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được đã được xem xét công khai tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định bị cáo Lường Văn T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 BLHS như Cáo trạng đã truy tố.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban ban thường vụ Quốc hội 14.
- Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Lường Văn T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23/12/2021. - Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy: 0,1 gam Methamphetamine còn lại sau giám định và 02 chiếc găng tay màu đen không còn giá trị sử dụng.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn T.
Án xử công khai, kết thúc cùng ngày, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 24/3/2022).
|
Nơi nhận: - VKSND huyện Điện Biên Đông; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan điều tra C.A huyện ĐBĐ; - Phòng NVHS CA huyện ĐBĐ; - CCTHADS huyện Điện Biên Đông; - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên; - Cơ quan THAHS C.A tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đồng Thị Nhung Quàng Văn Hòa |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Quang |
Bản án số 33/2022/HS-ST ngày 24/03/2022 của Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
